Tải bản đầy đủ
4 Đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại các DN trong mẫu khảo sát

4 Đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại các DN trong mẫu khảo sát

Tải bản đầy đủ

làm trái đạo đức của nhân viên. Điều này sẽ giúp tạo được một môi trường làm việc
lành mạnh, nâng cao được giá trị đạo đức của nhân viên qua đó có thể hạn chế được
một số rủi ro có thể phát sinh từ những hành vi sai trái của nhân viên.
Bên cạnh đó, một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp đều có các chính sách thưởng tuy
nhiên đều dựa theo sự đánh giá định kỳ, đánh giá cả một quá trình thực hiện công việc
của các nhân viên. Tuy nhiên, cũng còn có một phần không nhỏ doanh nghiệp (khoảng
40%) áp dụng các chính sách thưởng “nóng” cho các bộ phận hay cá nhân hoàn thành
tốt công việc, nhiệm vụ đây cũng là một chính sách nhằm khuyến khích động viên nhân
nổ lực hết mình trong công việc tuy nhiên nếu không có sự kiểm soát hoặc vận dụng tốt
biện pháp này đôi khi sẽ tạo cơ hội cho một số nhân viên để đạt được phần thưởng này
mà vi phạm về giá trị đạo đức nghề nghiệp cũng như tính chính trực của nhân viên đó.
v Sự khác nhau giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Do đặc thù là loại hình DN Nhỏ nên phần lớn (khoảng 80%) chưa có ban hành
cũng như công bố chính thức một quy định nào liên quan đến vấn đề đạo đức do đó khi
các hành vi vi phạm xảy ra chỉ được xử lý theo cảm tính, dẫn đến sự không đồng tình
cũng như không khâm phục của nhân viên cấp dưới.
Trái lại với các DN Nhỏ, các DN Vừa (khoảng 85%) đều có ban hành hoặc thực
thi các quy định liên quan đến đạo đức nghề nghiệp và việc xử lý các hành vi vi phạm
đều dựa trên các quy định cụ thể nên đều được các nhân viên đồng tình.

Ø Năng lực đội ngũ nhân viên
v Sự tương đồng giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Qua kết quả khảo sát, hầu hết tất cả các DN đều có sự xem xét về trình độ,
chuyên môn, kinh nghiệm và khả năng ngoại ngữ - tin học (những tiêu chí cần thiết để
làm việc trong môi trường DN nước ngoài) khi tuyển dụng nhằm phù hợp với vị trí cần
tuyển dụng cũng như khi cần có sự luân chuyển công việc giữa một số vị trí trong cùng
bộ phận. Tuy nhiên, thực tế khi tuyển dụng không phải tất cả các nhân viên được tuyển
dụng đều đáp ứng được hết các chỉ tiêu đề ra mà DN sẽ xem xét để tuyển dụng cho phù

hợp với vị trí yêu cầu. Một ứng viên khi đáp ứng được hầu hết những tiêu chí trên thì
mức lương họ yêu cầu sẽ tương xứng với khả năng đó đối với DN Vừa thì không phải
doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng được nên đối với các DN Nhỏ càng khó hơn. Do
đó, các doanh nghiệp này phải chấp nhận tìm một ứng viên khác phù hợp hơn dĩ nhiên
là trình độ, chuyên môn,… cũng hạn chế hơn.
v Sự khác nhau giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Kết quả khảo sát cho thấy phần nhiều các DN Nhỏ (khoảng 55%) không có bảng
mô tả công việc rõ ràng. Các nhân viên khi được tuyển dụng sẽ được phân công một
công việc chính, đồng thời nhà quản lý của DN tận dụng và khai thác triệt để thời gian
cũng như các khả năng khác của nhân viên đó để làm những công việc khác do phần
lớn ở các DN này số lượng nhân viên thường rất hạn chế và công việc chuyên môn
thường cũng không quá nhiều nên các nhân viên trong DN Nhỏ thường phải là những
người năng động, có khả năng hoạt động độc lập tuy nhiên trình độ thì thường lại chỉ ở
mức độ trung bình không chuyên sâu. Do quy mô nhỏ và nguồn lực tài chính hạn hẹp
nên hầu hết các nhà quản lý rất đắn đo trong tất cả các nguồn chi kể cả các khoản chi
nhằm đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên do đó việc không
tổ chức chương trình đào tạo hay cử nhân viên tham gia các khóa đào tạo nhằm nâng
cao trình độ nghiệp vụ là tình hình thực tế hiện nay trong hầu hết các DN thuộc loại
hình này. Trong khi, chính sách lương ở các DN này không cao nên thường các nhân
viên không thể chi tiêu lương cho việc tham gia các khóa học nhằm nâng cao trình độ
nên hầu hết các nhân viên đều có trình độ năng lực trung bình, kinh nghiệm chỉ được
đúc kết dần qua các thực tiễn. Một số nhân viên có điều kiện kinh tế có thể tham gia
được các khóa nâng cao trình độ thì đến thời điểm thích hợp họ cũng sẽ tìm một DN
khác phù hợp với trình độ và có thu nhập tương xứng.
Đối với DN Vừa: việc tổ chức các chương trình đào tạo hoặc cử các nhân viên
tham gia các khóa đào tạo thì qua khảo sát cho thấy một kết quả tốt hơn so với các DN
Nhỏ vì hầu hết các DN Vừa đều hiểu được rằng doanh nghiệp chỉ có thể đạt và hoàn

thành tốt các mục tiêu đề ra khi cán bộ nhân viên ở mọi cấp độ đều bảo đảm về năng
lực và trình độ. Ngoài ra, trong các DN Vừa các vị trí đều có bảng mô tả công việc một
cách rõ ràng nhằm tránh chồng chéo và tập trung chuyên môn cho nhân viên thực hiện
tốt nhất công việc được giao.

Ø Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán
v Sự tương đồng giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Do bản chất các DN được khảo sát là có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài nên
phần đại đa số các nhà quản lý (gồm cả trường hợp là các thành viên góp vốn hay các
nhà quản lý được thuê) đều được đào tạo, có trình độ và kinh nghiệm tương xứng với
vị trí cấp quản lý. Hầu hết trong số họ đều dành hết thời gian cho công tác quản lý và
điều hành doanh nghiệp chỉ trừ một số trường hợp họ là các thành viên góp vốn khi qua
đầu tư tại Việt Nam đồng thời vẫn quản lý một hay nhiều công ty khác ở nước ngoài do
đó thời gian sẽ được phân bổ cho các công ty ở các quốc gia khi đó chính sách của họ
sẽ thường là thuê các trưởng bộ phận (kế toán trưởng, trưởng phòng Marketing, trưởng
phòng thu mua, trưởng phòng xuất nhập khẩu…) đủ trình độ, kinh nghiệm và khả năng
thay họ để điều hành DN lúc họ đi công tác nước ngoài. Định kỳ, HĐQT đều có tổ
chức họp với trưởng các bộ phận, kế toán trưởng, kiểm toán độc lập để xem xét, tìm
cách giải quyết các vấn đề phát sinh cũng như định kỳ đánh giá lại tình hình hoạt động
của DN hay thu thập đầy đủ, kịp thời các thông tin nhằm kịp thời có sự chỉ đạo hợp lý.
Qua đó, cho thấy rằng HĐQT ở các DNNVV trong mẫu khảo sát đã thực hiện tốt vai
trò và chức năng của mình.
v Sự khác nhau giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Vì các DN được khảo sát đều thuộc loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn (chỉ
có hai công ty cổ phần thuộc loại hình DN Vừa) cho nên bộ phận kiểm tra và giám sát
cao nhất ở đây chính là Hội đồng quản trị. HĐQT có vai trò bổ nhiệm và giám sát, định
hướng việc thực hiện nhiệm vụ của Ban giám đốc do đó cần có sự độc lập cần thiết
giữa hai cấp lãnh đạo cao nhất này nhằm thể hiện sự hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống

KSNB. Tuy nhiên, thực tế khảo sát lại cho thấy hầu hết các DN Nhỏ lại chưa đáp ứng
được điều này vì trong phần lớn các DN Nhỏ thì các thành viên tham gia góp vốn có
trong HĐQT cũng kiêm nhiệm vai trò Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc,
Phó Giám đốc trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, phần lớn trong số họ không nhận biết
được và không hiểu được tầm quan trọng của KSNB trong DN.
Trái lại, HĐQT trong DN Vừa phần lớn (khoảng 80%) đều thể hiện tốt vai trò
độc lập trong việc bổ nhiệm, giám sát, định hướng cho việc thực hiện nhiệm vụ của
Ban giám đốc cũng như hiểu biết của họ về một hệ thống KSNB tốt sẽ là một công cụ
quản lý hữu hiệu để kiểm soát và điều hành hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo đạt
được các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất.

Ø Triết lý quản lý và phong cách điều hành
Nhìn chung, không có sự khác nhau giữa các DN Nhỏ và DN Vừa. Ở đây, các
nhà quản lý của DN đều mong muốn sau mỗi năm hoạt động đều đạt được kết quả kinh
doanh thật tốt tuy nhiên kết quả khảo sát cho thấy hầu hết không muốn mạo hiểm và rất
thận trọng khi đưa ra các quyết định trong kinh doanh cũng như đa số họ đều có thể
hiện quan điểm, hành động đúng đắn, minh bạch trong các hoạt động của DN. Thực tế,
ngay việc lựa chọn tỉnh Bình Dương làm nơi đầu tư cũng như đầu tư vào các khu công
nghiệp trong giai đoạn từ năm 2004-2008 của một số DN có vốn FDI để được hưởng
ưu đãi về thuế suất cũng như chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, địa
bàn đầu tư với cơ sở hạ tầng thuộc hạng tốt nhất Việt Nam... cũng đã chứng minh việc
thận trọng suy xét rất kỹ lưỡng của các nhà lãnh đạo DN. Đối với một DN muốn phát
triển bền vững cần có một sự ổn định trong kinh doanh, đặc biệt trong đó rất cần có sự
ổn định đối với các vị trí đầu tàu - vị trí mà các quyết định của họ đưa ra có thể làm một
DN hoạt động hiệu quả hay cũng từ quyết định đó dẫn đến sụp đổ cả một DN. Qua
khảo sát, hầu hết các vị trí nhân sự chủ chốt trong doanh nghiệp được khảo sát đều
không có sự biến động chỉ trừ một tỷ lệ nhỏ ở các DN Vừa (khoảng 25%) có công ty
mẹ hay thuộc một tập đoàn ở nước ngoài: một số vị trí chủ chốt của công ty được bổ

nhiệm theo nhiệm kỳ (thường là 3-5 năm) và khi kết thúc nhiệm kỳ sẽ được điều động
để sang một công ty khác trong cùng tập đoàn.
Cùng với điều kiện công nghệ thông tin phát triển hiện đại như hiện nay thông
tin liên lạc chưa bao giờ thuận tiện và dễ dàng đến như vậy, điều này đã giúp cho các
nhà quản trị hay các thành viên tham gia góp vốn nhưng không quản lý trực tiếp tại
Việt Nam đều có thể nắm bắt tình hình hoạt động cũng như các vấn đề vướng mắc phát
sinh trong doanh nghiệp của mình thông qua việc báo cáo hàng ngày của các nhà quản
lý trực tiếp tại Việt Nam (qua điện thoại, email, …).

Ø Cơ cấu tổ chức và phân chia quyền hạn - trách nhiệm
v Sự tương đồng giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Xét về cơ bản thì cơ cấu tổ chức trong cả DN Nhỏ và DN Vừa đều có sự phân
chia cụ thể trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận, phòng ban cũng như giữa cấp
quản lý và nhân viên với bảng mô tả chi tiết công việc cho từng người cụ thể. Đặc điểm
của DN có vốn FDI, thì việc thiết lập cơ cấu tổ chức hầu hết là rất bài bản với đầy đủ
các phòng ban, bộ phận chức năng, chẳng hạn như hành chánh, kế toán, nhân sự, kinh
doanh, thu mua, sản xuất, kế hoạch… tùy quy mô mà một số phòng ban khác có thể
được mở thêm nhằm phù hợp điều kiện kinh doanh của DN. Bởi sự rào cản về ngôn
ngữ nên hầu hết các nhà quản lý thường có các cấp dưới chỉ đạo trực tiếp là các trưởng
bộ phận người Việt Nam (một số vị trí nhạy cảm thì thông thường vẫn là người nước
ngoài) các trưởng bộ phận này thường đáp ứng tốt khả năng về ngoại ngữ và được giao
trách nhiệm rất lớn thay mặt cho các nhà quản lý chịu trách nhiệm về bộ phận được
giao, do đó quyền hạn và quyền lợi của họ cũng tương xứng với trách nhiệm mà họ
được phân công. Với sự phân chia rõ ràng, cụ thể đã giúp thuận lợi cho việc cấp trên
chỉ đạo, truyền đạt thông tin tới tất cả các nhân viên, cấp quản lý cũng nhận được gần
như đầy đủ các thông tin phản hồi, báo cáo từ nhân viên khi có phát sinh các vấn đề
quan trọng, nhạy cảm. Điều này góp phần quan trọng trong việc triển khai và thực hiện
các mục tiêu đề ra của DN. Tuy nhiên, cũng còn khoảng 12,5% DN qua khảo sát còn có

sự chồng chéo trong cơ cấu tổ chức, mà hầu hết ở đây là các DN Nhỏ có vốn tư nhân
(công ty gia đình, nhà đầu tư nhỏ lẻ), với mong muốn hạn chế tối đa chi phí cho việc
tuyển dụng lao động do đó việc thực hiện mục tiêu KSNB đối với các DN này thường
bị hạn chế khá nhiều.
v Sự khác nhau giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Qua khảo sát, cho thấy một sự khác biệt cơ bản giữa DN Nhỏ và DN Vừa là sự
đánh giá định kỳ cơ cấu tổ chức khi điều kiện kinh doanh có sự thay đổi (thay đổi bên
trong lẫn bên ngoài). Phần lớn DN Vừa (khoảng 60%) thực hiện việc đánh giá này
trong khi 70% DN Nhỏ vì cân nhắc về chi phí nên còn chưa chủ động định kỳ thực hiện
việc đánh giá này. Điều này rất nguy hiểm đối với các DN Nhỏ trong việc thực hiện
mục tiêu của DN, qua thực tế đã có trường hợp DN có thị trường tiêu thụ là nội địa, do
không có sự đánh giá định kỳ về cơ cấu tổ chức về nhân sự (bộ phận xuất-nhập khẩu)
dẫn đến việc ảnh hưởng đáng kể đến tình hình kinh doanh do có sự thay đổi thị trường
tiêu thụ (từ nội địa sang thị trường nước ngoài).
Xét về khía cạnh kiểm soát, thì cơ cấu tổ chức và cách phân chia quyền hạn trách nhiệm trong DN Nhỏ (khoảng 95%) chưa đảm bảo được sự giám sát lẫn nhau
giữa các nhân viên. Trong khi DN Vừa (khoảng 50%) cơ bản đã đáp ứng được điều
này. Việc tuyển dụng nhân sự trong các DN Nhỏ luôn có sự hạn chế và các nhân viên
khi được tuyển dụng làm việc thì họ chỉ chịu trách nhiệm và đảm bảo về công việc của
họ được phân công, mà không quan tâm, cũng như không có trách nhiệm giám sát đến
việc của những người khác nếu điều đó không được quy định trong trách nhiệm của họ
khi ký hợp đồng lao động. Trong khi các nhà quản lý chỉ tập trung cho công việc kinh
doanh, cũng như họ chấp nhận không để phát sinh thêm chi phí nên dẫn đến việc thiếu
tăng cường đối với thủ tục kiểm soát này.

Ø Chính sách nhân sự
v Sự tương đồng giữa DN Nhỏ và DN Vừa:

Khi tuyển dụng nhân viên mới, DN Nhỏ và DN Vừa đều có chính sách để phát
triển đội ngũ nhân viên về trình độ và rèn luyện về đạo đức thông qua việc đưa ra các
tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá, đề bạt hoặc kỷ luật một cách công khai và hợp lý nhằm
tạo động lực giúp các nhân viên nổ lực phấn đấu. Bên cạnh đó, các DN khuyến khích
nhân viên tự trao dồi kiến thức bằng nhiều hình thức khác nhau, hoặc tài trợ cho các
nhân viên đi tham gia các lớp chuyên tu nâng cao trình độ, hoặc các chương trình tập
huấn… (tuy nhiên việc này thì lại hạn chế trong DN Nhỏ). Với chính sách nhân sự phù
hợp đã giúp cho công ty tuyển dụng các vị trí đảm bảo đúng người đúng việc, các nhân
viên mới khi được tuyển dụng đều nắm được đầy đủ các thông tin về yêu cầu của doanh
nghiệp khi tuyển dụng họ cũng như quyền lợi và trách nhiệm của họ khi được tuyển
dụng.
Một nhược điểm trong cơ cấu tổ chức của cả DN Vừa và Nhỏ (khoảng 80%) là
chưa có sự dự phòng về nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm sẵn sàng thay thế cho
những vị trí quan trọng khi cần thiết.
v Sự khác nhau giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Các DN Nhỏ cũng khuyến khích việc nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên
nhưng với quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính hạn chế nên hầu hết các doanh nghiệp này
thường khuyến khích các nhân viên tự học thay vì tổ chức hay cử nhân viên tham gia
các chương trình đào tạo. Không vì vậy mà DN Nhỏ không có chính sách phát triển
nhân viên riêng, họ thường dùng chính sách về đánh giá, đề bạt một cách cụ thể và hợp
lý, do đó những nhân viên có trình độ, năng lực khi làm việc trong các doanh nghiệp
này thường sẽ rất nhanh thăng tiến.
2.4.2 Đánh giá rủi ro

Ø Mục tiêu của toàn doanh nghiệp và mục tiêu bộ phận
v Sự khác nhau giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Đối với hầu hết các DN, khi hoạt động kinh doanh thì luôn xác lập một mục tiêu
chính đó là tối thiểu hóa chi phí hay tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng thị phần, phát triển

bền vững và tạo được thương hiệu. Tuy nhiên, tùy vào khả năng và sự mong đợi của
mỗi DN mà mục tiêu đó sẽ có sự riêng biệt. Quan trọng là mục tiêu có được triển khai
một cách nhất quán và phổ biến đến mọi bộ phận trong DN hay không? Vì thiết lập
mục tiêu là một điều kiện tiên quyết để KSNB hiệu quả. Dựa theo kết quả khảo sát cho
thấy một sự khác biệt rất lớn giữa DN Vừa với DN Nhỏ:
- Trong khi, DN Nhỏ (khoảng 60%) không có xu hướng phổ biến rộng rãi các
mục tiêu của mình cho toàn thể nhân viên mà chỉ muốn họ tập trung thực hiện và hoàn
thành tốt theo những quyết định hay những công việc được giao, thì các DN Vừa
(khoảng 90%) lại có khuynh hướng ngược lại không chỉ mong muốn nhân viên chú tâm
thực hiện, hoàn thành tốt công việc mà họ còn cần phải biết được mục tiêu chung của
doanh nghiệp nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân viên trong việc thực thi
nhiệm vụ để cùng với doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu đã đề ra.
- Với quan điểm như trên đã tạo thuận cho việc truyền đạt mục tiêu chung của
toàn doanh nghiệp đến toàn thể nhân viên và HĐQT trong DN Vừa được thực hiện tốt
và hiệu quả hơn so với DN Nhỏ.
- Bên cạnh đó, các DN Vừa có lập kế hoạch nhằm hỗ trợ và tạo thuận lợi cho
việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong khi phần lớn DN Nhỏ lại không thực hiện
thủ tục này.
- Và một sự khác biệt rõ ràng giữa DN Vừa với DN Nhỏ thể hiện trong việc thiết
lập mục tiêu bộ phận: khoảng 70% DN Nhỏ không thiết lập mục tiêu cụ thể cho từng
bộ phận hay cho từng chương trình hành động trong khi 75% các nhà quản lý của DN
Vừa không chỉ nhận biết được tầm quan trọng của KSNB mà thậm chí trong cả việc
thiết lập mục tiêu của doanh nghiệp, bên cạnh việc thiết lập mục tiêu chung các nhà
quản lý này còn tham gia trực tiếp vào việc thiết lập, phân chia các mục tiêu cụ thể hơn
cho từng bộ phận, phòng ban, cũng như trong từng chương trình hành động và có kế
hoạch kiểm soát cũng như định kỳ có sự đánh giá để từ đó có thể nhận biết và phân tích

các rủi ro có thể đe dọa đến các mục tiêu của mình nhằm có các giải pháp hỗ trợ kịp
thời.
v Sự tương đồng giữa DN Nhỏ và DN Vừa:
Trong nội dung “thiết lập mục tiêu của toàn doanh nghiệp”, DN Vừa và Nhỏ đều
có một điểm chung là chưa có được một sự nhất quán trong kế hoạch kinh doanh - mục
tiêu chiến lược - điều kiện thực tế tại DN. Thực tế cho thấy, trong điều kiện khủng
hoảng nền kinh tế toàn cầu và hậu quả di chứng của nó để lại như hiện nay mà hầu hết
các DN Vừa và Nhỏ là nạn nhân chịu thiệt hại nặng nề nhất, do đó hiện tại các nhà
quản lý các doanh nghiệp này chỉ với mong muốn có thể gượng dậy và duy trì sự tồn tại
của doanh nghiệp nên đã đành phải từ bỏ một số hoặc tất cả mục tiêu chiến lược cũng
như các kế hoạch kinh doanh được thiết lập từ lúc đầu.

Ø Nhận dạng và đánh giá rủi ro
Dựa vào kết quả khảo sát, nhìn chung cả DN Vừa và Nhỏ đều có sự đánh giá và
nhận dạng rủi ro trong kinh doanh cả bên trong lẫn bên ngoài. Tuy nhiên, khi xét về
gốc độ từng loại hình doanh nghiệp thì dường như việc nhận dạng rủi ro một cách
thường xuyên đã không được thực hiện trong các DN Nhỏ, các DN này khá chủ quan
và thờ ơ trước các rủi ro, các sự kiện tiềm tàng hiện diện xung quanh, luôn có khả năng
xuất hiện và ảnh hưởng không tốt đến tình hình hoạt động kinh doanh, điều này tác
động rất lớn trong việc thực hiện các mục tiêu của các DN Nhỏ.
Đối với việc chấp nhận rủi ro ảnh hưởng đến báo cáo tài chính với lý do chi phí
cao thì 75% DN Vừa trả lời là không trong khi một tỷ lệ tương tự DN Nhỏ lại sẵn sàng
vì muốn tiết kiệm chi phí nên chấp nhận rủi ro và chấp nhận các mục tiêu của mình bị
ảnh hưởng, điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến các mục tiêu của KSNB nếu không có các
thủ tục kiểm soát hỗ trợ hay thay thế.

Ø Kiểm soát rủi ro khi có sự thay đổi của một số nhân tố tác động
Qua kết quả khảo sát cho thấy, cả DN Vừa và Nhỏ đều không có thành lập hay
tổ chức phòng ban, tổ, đội chuyên trách về việc nhận dạng, dự báo và ứng phó với các

sự kiện tiềm tàng hay sự thay đổi của một số nhân tố có ảnh hưởng đến tình hình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp xảy ra cũng như không có một bộ phận chuyên
trách về nghiên cứu đánh giá thị trường, thị hiếu của khách hàng. Tuy nhiên, không
phải vì thế mà các doanh nghiệp này không có các biện pháp nhằm kiểm soát rủi ro khi
có sự thay đổi của các nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
mặc dù mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những mặt tích cực cũng như những hạn chế
trong việc đối phó với các rủi ro tiềm tàng phát sinh từ những sự thay đổi này, cụ thể
kết quả khảo sát cho thấy:
- Đối với môi trường kinh doanh: DNNVV đều thường xuyên cập nhật các văn
bản pháp luật mới để biết và hiểu được pháp luật hiện hành nhằm vận dụng trong khi
thiết lập hoặc sửa đổi, bổ sung các mục tiêu chiến lược cũng như thực hiện triển khai
các chương trình hoạt động theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
- Đối với chính sách nhân sự: các nhà quản lý của DN Nhỏ chỉ mới quan tâm
đến hoạt động ngăn ngừa mà bỏ sót công việc giám sát đối với nhân viên, thể hiện qua
việc chưa có thủ tục kiểm soát nào được thực hiện đối với các nhân viên sắp nghỉ việc
cũng như không có một phương pháp thích hợp nhằm giúp các nhân viên mới hòa nhập
nhanh chóng trong một tập thể mới, trong khi phần lớn DN Vừa đã có các biện pháp và
thủ tục kiểm soát tốt này nhằm hạn chế các rủi ro không mong muốn có thể phát sinh.
- Đối với hệ thống thông tin: có tới 95% DN Vừa trong khi chỉ có 45% DN Nhỏ
hiểu được tầm quan trọng của công nghệ thông tin và sự thiết yếu của hệ thống thông
tin trong DN do đó luôn quan tâm, thực hiện tốt việc bảo quản hệ thống thông tin nhằm
tránh các sự cố có thể xảy ra ảnh hưởng đến việc hư hỏng cũng như mất mát dữ liệu.
Mỗi khi có sự thay đổi, cải tiến, nâng cấp hệ thống thông tin phần lớn các DN đều có
sự lựa chọn, xem xét cũng như đánh giá hiệu quả mang lại của hệ thống mới này.
- Đối với tốc độ tăng trưởng nhanh: phần lớn hệ thống thông tin trong các DN
Vừa và Nhỏ đều đáp ứng đủ khả năng xử lý số lượng thông tin, dữ liệu ngày càng
nhiều do sự mở rộng và phát triển của doanh nghiệp tuy vẫn còn một số các DN Nhỏ vì

chi phí nên chưa mạnh dạn trang bị, nâng cấp một hệ thống thông tin đủ đáp ứng yêu
cầu ngày càng nhiều của lượng thông tin và dữ liệu phát sinh trong DN.
- Đối với sự thay đổi công nghệ mới: việc ứng dụng công nghệ trong SXKD
thường chỉ có trong các DN có vốn từ vừa trở lên cùng với một số DN đòi hỏi ngành
nghề cần có sự ứng dụng của công nghệ (như: cơ khí chính xác, động cơ xe, công nghệ
in ấn, hóa chất…), trong khi các DN Nhỏ hầu như sản phẩm làm ra từ việc sử dụng lao
động phổ thông, ít đòi hỏi áp dụng khoa học công nghệ (như may mặc, gia công
thêu,…). Do đó, qua thực tế khảo sát cho thấy việc ứng dụng công nghệ vào trong sản
xuất, cũng như theo dõi công nghệ và ứng dụng mới của đối thủ cạnh tranh là một hoạt
động thường có trong 85% các DN Vừa và 45% DN Nhỏ được khảo sát.
- Đối với sự thay đổi quy trình sản xuất mới: khi có kế hoạch sản xuất sản phẩm
mới cả DN Vừa và Nhỏ đều có sự chuẩn bị nhằm đáp ứng kịp thời với sự thay đổi đó,
cụ thể là có kế hoạch về tuyển dụng nhân viên mới hoặc có kế hoạch đào tạo các nhân
viên nhằm đáp ứng chuyên môn cũng như các điều kiện cần thiết khác cho việc sản
xuất sản phẩm mới, đồng thời cũng có nhu cầu tìm kiếm các nguồn cung cấp nguyên
liệu đầu vào cũng như thị trường đầu ra cho sản phẩm mới...
- Đối với sự thay đổi của cơ cấu tổ chức: qua khảo sát, DNNVV đều có kế
hoạch đánh giá nhân viên dựa trên kết quả công việc và khả năng đáp ứng công việc để
có sự điều động, bố trí, cân nhắc việc tái ký hợp đồng lao động. Tuy nhiên, khi có sự
thay đổi lớn về nhân sự (cụ thể là khi có đợt sa thải lớn) thì phần nhiều các DNNVV
đều không biết có sẽ sử dụng biện pháp nào nhằm cân bằng, trấn an tinh thần của các
nhân viên còn lại do trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nhu cầu về nguồn nhân lực
đang thiếu trầm trọng, hầu hết doanh nghiệp đang tìm cách tuyển dụng, lôi kéo lao
động nhằm đáp ứng số lượng nhân lực cho sản xuất do đó việc sa thải lớn ở các doanh
nghiệp này thường là hiếm xảy ra. Trong khi, có một số DN có phát sinh việc sa thải
nhiều lao động là do trong các doanh nghiệp này có tình trạng công nhân đình công do
có sự lôi kéo của một nhóm công nhân. Và thường thì nhóm công nhân này sau đó sẽ bị