Tải bản đầy đủ
5 Kinh nghiệm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trên thế giới

5 Kinh nghiệm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trên thế giới

Tải bản đầy đủ

thuế về KSNB của báo cáo COSO 1992 Lembi Noorvee xây dựng bảng câu hỏi để
đánh giá các bộ phận cấu thành KSNB của các công ty này. Kết quả nghiên cứu của
Lembi Noorvee (2006) đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của năm bộ phận cấu thành
hệ thống KSNB; từ đó so sánh hệ thống KSNB của 3 doanh nghiệp với nhau, so sánh
với báo cáo COSO 1992 và đưa ra các kiến nghị để cải thiện hệ thống KSNB cho các
công ty này nói riêng, cũng như đưa ra kinh nghiệm để xây dựng hệ thống KSNB cho
các công ty ở Estonia nói chung.
Dựa vào khuôn mẫu lý thuyết về hệ thống KSNB của COSO 1992 và từ thực
trạng đánh giá hệ thống KSNB của các doanh nghiệp, Lembi Noorvee (2006) đã đưa ra
những kết luận và kiến nghị được đúc kết như sau:
- Thực tế các doanh nghiệp có thực hiện đánh giá hệ thống KSNB của mình, có
cố gắng hạn chế sự ảnh hưởng của các điểm yếu và phát huy những điểm mạnh.
- Hệ thống KSNB của các DN có vốn FDI hữu hiệu hơn hệ thống KSNB của các
DN có vốn đầu tư trong nước. Các DN có vốn đầu tư trong nước có mức độ cải tiến
thấp; nền tảng kiến thức căn bản thấp; có nhiều thủ tục lạc hậu; nhà quản lý bảo thủ
trong việc tiếp thu cái mới, kinh nghiệm bị giới hạn; các nhân viên không chú trọng,
quan tâm đến trách nhiệm của mình trong việc xây dựng hệ thống KSNB.
- Nên áp dụng những hướng dẫn của COSO (1992) trong quá trình xây dựng và
hoàn thiện hệ thống KSNB cho DN mình, tham khảo mô hình KSNB của các công ty
khác, nhưng không có nghĩa là áp dụng giống hệt những mô hình đó.
- Những DN có tốc độ phát triển nhanh thì nhà quản lý chỉ chú trọng nhiều đến
các chỉ số tăng trưởng mà ít dành sự quan tâm đến hệ thống KSNB. Do đó, việc một hệ
thống KSNB hoạt động không hữu hiệu trong tương lai có thể là một trở ngại đối với
các DN này.
- Xây dựng hệ thống KSNB tốt cho các DN có quy mô nhỏ thì dễ dàng hơn là
DN có quy mô lớn bởi vì nhân sự ít, ít cấp quản lý và gần gũi hơn trong giao tiếp. Xây

dựng hệ thống KSNB cho các DN mới hoàn toàn sẽ dễ thực hiện hơn so với các DN
phụ thuộc nhiều vào công ty mẹ.
- Cần xác định rõ ràng trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân có liên quan trong
việc xây dựng hệ thống KSNB.
- Cân nhắc mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, không nên xây dựng các thủ tục
quá tốn kém chi phí hoặc không đem đến lợi ích hay không cần thiết cho DN.
- Phát huy những hoạt động liên quan đến việc ngăn chặn và phát hiện gian lận:
Nhà quản lý cần phải nhận dạng được tầm quan trọng của vấn đề này và không
nên quá tin tưởng vào nhân viên. Để có thể ngăn chặn và phát hiện gian lận thì DN cần
hoàn thiện hệ thống KSNB, đặc biệt nhấn mạnh vào môi trường kiểm soát.
Qua kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của Lembi Noorvee (2006) đưa ra
nhằm xây dựng hệ thống KSNB thật sự hữu hiệu cho các DNNVV ở Estonia là những
kinh nghiệm giúp tác giả có thể tham khảo thêm trong quá trình hoàn thiện hệ thống
KSNB cho các DNNVV có vốn FDI trong bài viết này.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua chương 1, người viết trình bày những điểm cơ bản về lý thuyết KSNB theo
báo cáo COSO 1992 với 05 (năm) thành phần chủ yếu của một hệ thống KSNB bao
gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin - truyền
thông và giám sát.
Một hệ thống KSNB hữu hiệu có thể giúp đơn vị đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Tuy nhiên, tự trong nội tại của bất kì hệ thống KSNB nào cũng tồn tại những hạn chế
vốn có nhất định nên mỗi đơn vị cần phải có những biện pháp thích hợp để giảm thiểu
các tác động từ những hạn chế này khi thiết lập hệ thống KSNB.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã hỗ trợ rất nhiều
cho mọi ngành mọi lĩnh vực nói chung và hệ thống kế toán nói riêng. Hầu hết tất cả các
DN hiện nay đều đã áp dụng công nghệ thông tin vào trong công việc xử lý ghi chép số
liệu kế toán. Do đó, việc thiết kế hệ thống KSNB ngày nay cũng chịu sự ảnh hưởng và
bản thân khi được vận hành cũng không thể không theo sự tất yếu của thời đại công
nghệ như hiệu nay.
Bên cạnh đó, Chương này cũng đã trình bày các khái niệm về DNNVV,
DNNVV có vốn đầu tư nước ngoài và đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này trong
nền kinh tế hiện nay. Dựa trên cơ sở đó để tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng
của hệ thống KSNB trong các DNNVV có vốn FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương
thông qua việc sử dụng các công cụ đánh giá KSNB của COSO 1992 được trình bày
trong chương 2.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC DNNVV CÓ VỐN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1

Giới thiệu tổng quát về DNNVV có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa

bàn tỉnh Bình Dương
Tỉnh Bình Dương nằm trong tứ giác vàng (TPHCM, Đồng Nai, Vũng Tàu và
Bình Dương) của Đông Nam Bộ, một khu vực năng động nhất của cả nước, và là một
trong những tỉnh, thành trực thuộc Trung Ương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước
ngoài với nhiều chính sách ưu đãi, cơ sở hạ tầng hoàn thiện nhằm trải thảm hoa chào
đón các nhà đầu tư từ khắp mọi nơi trên thế giới. Tổng số vốn FDI đăng ký đầu tư tại
tỉnh Bình Dương lũy kế đến ngày 15/12/2011 là hơn 15 tỷ đô la Mỹ với hơn 2.242 dự
án (Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2012), trong đó có khoảng hơn
1.900 DN đang hoạt động, tuy nhiên đa phần là các DN có quy mô vừa và nhỏ (khoảng
1.626 DN). Các DNNVV này hoạt động kinh doanh đa dạng như gia công, sản xuất,
thương mại (được quyền nhập khẩu phân phối đến các đại lý) và dịch vụ với nhiều
ngành nghề như may mặc, giày dép, điện tử, cơ khí chính xác, hóa chất, in ấn, bao bì,
dịch vụ tư vấn, kho bãi, vận tải ... Số thu ngân sách nhà nước từ các DNNVV có vốn
FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương chiếm tỷ trọng không nhỏ trong số thu của tỉnh.
Theo báo cáo thống kê của Cục Thuế tỉnh Bình Dương trong năm 2011, số thu từ loại
hình doanh nghiệp này là khoảng trên 1.261 tỷ đồng chiếm 34% nguồn thu từ các DN
có vốn FDI trên địa bàn tỉnh và chiếm trên 8,3% trên tổng số thu ngân sách của Tỉnh.
Ngoài ra, DNNVV có vốn FDI đã giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao
động trên địa bàn Tỉnh, tạo ra vô số loại hình dịch vụ phát sinh đi kèm... Với những gì

đã mang lại, DNNVV có vốn FDI này càng khẳng định vị trí quan trọng trong sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương.
2.2

Đánh giá hệ thống kiểm soát của các DNNVV có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài ở Việt Nam.
Qua thực tế tìm hiểu về hệ thống kiểm soát ở các doanh nghiệp có vốn FDI,
nhận thấy rằng: các DNNNV có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đến ba chế độ kiểm
soát trong doanh nghiệp, mà KSNB vẫn đóng vai trò chủ yếu bao trùm lên hai chế độ
kiểm soát còn lại, cụ thể:
Thứ nhất là sự kiểm soát của kiểm toán viên độc lập do một công ty kiểm toán
độc lập thực hiện. Việc định kỳ phải được kiểm toán tùy thuộc theo sự yêu cầu của cơ
quan chính quyền, tổ chức tài chính, người ký kết hợp đồng, các chủ nợ, thành viên hội
đồng quản trị... Mục đích là để kiểm toán viên độc lập bên ngoài đưa ra ý kiến của họ
về tính trung thực, và hợp lý đối với những nguyên tắc kế toán đã được thể hiện trong
sổ sách và BCTC của công ty, cũng như kết quả hoạt động, khả năng hoạt động liên tục
của Công ty. Tuy nhiên, phần nhiều công ty kiểm toán độc lập khi kiểm tra các DN nhỏ
với mức phí thấp thì chất lượng công việc thực hiện và ý kiến nêu lên trên báo cáo
kiểm toán cũng có phần bị hạn chế không đáp ứng được như mong đợi của các bên thứ
ba cần thông tin từ việc đưa ra ý kiến đó.
Thứ hai là kiểm soát mức độ hoàn thành kế hoạch bằng việc thiết lập ngân sách
hàng năm. Ngân sách bao gồm thu lẫn chi và nó là kế hoạch lời lãi của DN. Cách lập
ngân sách có thể tóm tắt như sau: các bộ phận trong DN phải tự mình lên kế hoạch
công việc cho năm tới trong phạm vi chức năng và dựa theo một số hướng dẫn của DN
đưa ra. Khi thực hiện hoàn thành họ chuyển đổi các hoạt động thành tiền và do đó
thành số thu của bộ phận. Mặt khác, khi thực hiện kế hoạch họ cũng cần mua vật liệu,
trả lương cho nhân viên, điện nước... trở thành số chi của bộ phận. Ngân sách thu chi
của từng bộ phận được ban lãnh đạo xem xét và chấp thuận. Vì hoạt động của các đơn
vị đã được chuyển hóa thành tiền, nên khi mua nguyên liệu hay lúc trả lương sẽ được