Tải bản đầy đủ
4 Khái quát chung về DNNNV có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

4 Khái quát chung về DNNNV có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tải bản đầy đủ

II. Công nghiệp và
xây dựng

< 10

< 20

Trên 10 -> 200

Trên 20 -> 100

Trên 200 -> 300

III. Thương mại và
dịch vụ

< 10

< 10

Trên 10 -> 50

Trên 10 -> 50

Trên 50 -> 100

(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ)
Đã có không ít sự điều chỉnh đối với chỉ tiêu và các tiêu thức để phân loại và
xác định DNNVV và chắc chắn một điều rằng định nghĩa về DNNVV theo Nghị định
56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ chưa phải là cuối cùng bởi vì các chỉ
tiêu phân loại này thường xuyên thay đổi để phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã
hội qua từng thời kỳ.
1.4.2 Khái niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005 (Nguyễn Tất
Viễn, 2009, trang 6-8) có đưa ra một số khái niệm sau:
“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hay vô hình để
hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động đầu tư.
Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt
động đầu tư tại Việt Nam.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà
đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp
Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập hay mua lại.
Từ các khái niệm trên ta có thể rút ra một khái niệm chung như sau:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình kinh doanh mà
nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn, tự thiết lập các cơ sở SXKD cho riêng mình, tự quản lý,
khai thác hoặc thuê người quản lý, khai thác cơ sở này, hoặc hợp tác với đối tác nước

sở tại thành lập cơ sở SXKD và tham gia quản lý, cùng với đối tác nước sở tại chia sẻ
lợi nhuận và rủi ro.
1.4.3 Đặc điểm DNNVV có vốn FDI.
Là một loại hình doanh nghiệp hình thành và phát triển bắt nguồn từ hoạt động
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nên loại hình doanh nghiệp này có những đặc điểm
riêng, khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác, cần phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ
lưỡng, để hạn chế được những sai lầm không đáng có trong quá trình quản lý hoạt động
kinh doanh, quá trình thiết kế hệ thống KSNB và quá trình đánh giá nhằm xác định các
nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong hệ thống KSNB từ đó có các giải pháp phù hợp
giúp cải thiện hệ thống KSNB ngày càng tốt hơn trong các DN này.
ü Nguồn vốn đầu tư kinh doanh ít
Mặc dù, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 có quy định về tiêu chí
để xác định DNNVV có thay đổi so với trước đây tuy nhiên đó cũng chỉ là một quy luật
tất yếu trong nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Theo quy định mới nếu so với
cùng tiêu chí về vốn để xác định DNNVV thời gian trước đây thì số vốn này không
phải là nhỏ. Tuy nhiên, cũng không phải là lớn trong điều kiện nền kinh tế thị trường
của Việt Nam hiện nay. Do đó, đặc điểm cơ bản của một DNNVV có vốn FDI cũng
không khác so với một DNNVV Việt Nam là thường có vốn điều lệ rất ít, chủ yếu là
vay vốn để sản xuất kinh doanh, nguồn vốn kinh doanh chủ yếu là tự có.
ü Lao động trong DNNVV hạn chế cả về số lượng và chất lượng
Trong hàng ngàn dự án đầu tư từ nước ngoài, số lượng dự án đầu tư đảm bảo về
lượng và chất (về vốn đầu tư, về công nghệ...) chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Phần lớn chủ
yếu là các dự án đầu tư hình thành các DNNVV vốn đầu tư ít bởi vì chi phí đầu tư thấp,
tận dụng được nguồn tài nguyên, nhiều chính sách ưu đãi, và đặc biệt là chi phí lao
động giá rẻ... Và các dự án này chủ yếu sử dụng lao động phổ thông do đó chất lượng
phần lớn lao động có trình độ, kỹ năng chuyên môn thấp, kể cả các chủ doanh nghiệp,
nhà quản lý có những người theo cha truyền con nối, hoặc do có điều kiện về tài chính

nhưng không được đào tạo bài bản về chuyên môn nghiệp nên năng lực quản lý và sự
hiểu biết nhìn chung còn nhiều hạn chế.
ü Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu
Mặc dù đây là các DN có vốn FDI nhưng các DN này khi đầu tư vào Việt Nam
thuộc 2 dạng: một là, DN chỉ chủ yếu sử dụng lao động tay chân, lao động phổ thông
với máy móc, thiết bị đơn giản; hai là, DN sản xuất đòi hỏi máy móc thiết bị và trình
độ, công nghệ cao, tiên tiến. Tuy nhiên, thực tế hiện nay phần lớn các nhà đầu tư nước
ngoài (chủ yếu là các nhà đầu tư nhỏ) chỉ đem vào Việt Nam những máy móc, thiết bị,
công nghệ lạc hậu, lỗi thời. Đồng thời, với nguồn lực tài chính hạn chế, các DN này
không có thường xuyên thay đổi công nghệ, nâng cấp, đổi mới máy móc, thiết bị và
phương pháp sản xuất tiên tiến, hiện đại dẫn đến tốc độ đổi mới quá chậm nên trình độ
công nghệ, kỹ thuật của các DN FDI này hiện nay vẫn lạc hậu so với mức trung bình
của thế giới.
ü Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ
Xuất phát từ quy mô của DNNVV là số lượng lao động không nhiều dẫn đến cơ
cấu tổ chức đơn giản, không phức tạp, chính vì sự nhỏ gọn nên khi cần có sự thay đổi
sẽ rất dễ thích ứng, thay đổi dễ dàng.
1.5 Kinh nghiệm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trên thế giới
Hệ thống KSNB đã đem đến những lợi ích đáng kể cho các DN qua đó ngày
càng khẳng định tầm quan trọng và vai trò của mình trong các DN, chính vì thế việc
xây dựng hệ thống KSNB hữu hiệu cho các DN là vấn đề mà hầu hết các quốc gia lớn
trên thế giới đều quan tâm đến. Có nhiều bài nghiên cứu về KSNB của DNNVV, trong
đó có một bài nghiên cứu ở Estonia, được Lembi Noorvee đúc kết từ việc khảo sát hệ
thống KSNB của 3 DN trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ kinh tế “Đánh giá sự
hữu hiệu của KSNB đối với BCTC”. (Trần Quế Anh, 2010)
Nội dung bài viết tập trung nghiên cứu hệ thống KSNB của 3 doanh nghiệp sản
xuất Vừa và Nhỏ có sự khác nhau về hình thức sở hữu vốn. Dựa trên khuôn mẫu lý

thuế về KSNB của báo cáo COSO 1992 Lembi Noorvee xây dựng bảng câu hỏi để
đánh giá các bộ phận cấu thành KSNB của các công ty này. Kết quả nghiên cứu của
Lembi Noorvee (2006) đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của năm bộ phận cấu thành
hệ thống KSNB; từ đó so sánh hệ thống KSNB của 3 doanh nghiệp với nhau, so sánh
với báo cáo COSO 1992 và đưa ra các kiến nghị để cải thiện hệ thống KSNB cho các
công ty này nói riêng, cũng như đưa ra kinh nghiệm để xây dựng hệ thống KSNB cho
các công ty ở Estonia nói chung.
Dựa vào khuôn mẫu lý thuyết về hệ thống KSNB của COSO 1992 và từ thực
trạng đánh giá hệ thống KSNB của các doanh nghiệp, Lembi Noorvee (2006) đã đưa ra
những kết luận và kiến nghị được đúc kết như sau:
- Thực tế các doanh nghiệp có thực hiện đánh giá hệ thống KSNB của mình, có
cố gắng hạn chế sự ảnh hưởng của các điểm yếu và phát huy những điểm mạnh.
- Hệ thống KSNB của các DN có vốn FDI hữu hiệu hơn hệ thống KSNB của các
DN có vốn đầu tư trong nước. Các DN có vốn đầu tư trong nước có mức độ cải tiến
thấp; nền tảng kiến thức căn bản thấp; có nhiều thủ tục lạc hậu; nhà quản lý bảo thủ
trong việc tiếp thu cái mới, kinh nghiệm bị giới hạn; các nhân viên không chú trọng,
quan tâm đến trách nhiệm của mình trong việc xây dựng hệ thống KSNB.
- Nên áp dụng những hướng dẫn của COSO (1992) trong quá trình xây dựng và
hoàn thiện hệ thống KSNB cho DN mình, tham khảo mô hình KSNB của các công ty
khác, nhưng không có nghĩa là áp dụng giống hệt những mô hình đó.
- Những DN có tốc độ phát triển nhanh thì nhà quản lý chỉ chú trọng nhiều đến
các chỉ số tăng trưởng mà ít dành sự quan tâm đến hệ thống KSNB. Do đó, việc một hệ
thống KSNB hoạt động không hữu hiệu trong tương lai có thể là một trở ngại đối với
các DN này.
- Xây dựng hệ thống KSNB tốt cho các DN có quy mô nhỏ thì dễ dàng hơn là
DN có quy mô lớn bởi vì nhân sự ít, ít cấp quản lý và gần gũi hơn trong giao tiếp. Xây