Tải bản đầy đủ
3 Lợi ích và hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ

3 Lợi ích và hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ

Tải bản đầy đủ

- Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính của doanh
nghiệp.
- Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt của tổ chức
chức cũng như các quy định của luật pháp.
- Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt
được mục tiêu đặt ra đồng thời bảo vệ quyền lợi và gây dựng lòng tin đối với các nhà
đầu tư, các cổ đông.
1.3.2 Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo COSO (1992, p.79), một hệ thống KSNB hữu hiệu ngăn ngừa hết mọi rủi
ro, gian lận, sai sót có thể xảy ra là một điều phi thực tế, nó chỉ có thể hạn chế đến mức
tối đa các sai phạm này bởi do trong nội tại hệ thống kiểm soát nội bộ cũng có những
hạn chế vốn có:
- Lợi ích - chi phí: hầu hết các nhà quản lý sẽ không muốn bỏ ra một khoản chi
phí lớn để đổi lấy lợi ích có thể mang lại ít hơn từ việc thực hiện các thủ tục kiểm soát.
Do đó, họ có khuynh hướng là thực hiện một hệ thống kiểm soát cung cấp một sự đảm
bảo hợp lý với chi phí phù hợp hơn là một sự đảm bảo tuyệt đối.
- Sự lạm quyền của nhà quản lý: hệ thống KSNB là do nhà quản lý thiết lập và
điều hành nên hầu như nó chỉ có tác dụng kiểm soát đối với các cấp thấp hơn trong một
đơn vị và gần như không có hiệu quả đối với các cấp quản lý cao hơn một khi họ đã cố
tình gian lận.
- Sự thông đồng: việc thiết kế những chính sách, thủ tục để nâng cao hiệu quả
của hệ thống KSNB dựa trên sự phân chia trách nhiệm vẫn có thể bị phá vỡ bởi sự
thông đồng giữa các nhân viên với nhau hoặc nhân viên DN với bên ngoài do bất kì
hoạt động kiểm soát trực tiếp nào của KSNB đều phụ thuộc vào yếu tố con người.
- Chưa áp dụng các phương pháp, kỹ thuật để quản trị rủi ro: Báo cáo COSO
năm 1992 cung cấp khá nhiều các phương pháp, kỹ thuật cho KSNB. Tuy nhiên các kỹ

thuật này mới chỉ dừng lại ở mức độ kiểm soát chứ chưa đáp ứng được yêu cầu về đánh
giá và quản trị các rủi ro liên quan đến đơn vị.
- Chưa thể hiện vai trò của người quản lý cao cấp và trách nhiệm của họ đối với
rủi ro: Hệ thống KSNB được xây dựng bởi những người quản lý trong đơn vị nhằm
đảm bảo hợp lý việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, lý thuyết KSNB chỉ
giới hạn trách nhiệm của người quản lý trong các hoạt động của đơn vị, chưa thể hiện
trách nhiệm liên quan đến việc kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn. Vì vậy, sau khi báo cáo
COSO 1992 ra đời thì lý thuyết KSNB tiếp tục phát triển theo nhiều hướng khác nhau
và theo hướng tích hợp với việc quản trị các rủi ro tại đơn vị.
- Trong một số trường hợp, với những hạn chế trong tính cách, tác phong và
năng lực làm việc của nhân viên có thể sẽ gây ra sai sót như: vô ý, bất cẩn, sao lãng,
đánh giá sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp dưới.
- Hoạt động kiểm soát chỉ tập trung vào các sai phạm dự kiến, do đó khi xảy ra
các sai phạm đột xuất, bất thường thì thủ tục kiểm soát trở nên kém hữu hiệu, thậm chí
vô hiệu.
- Các thủ tục, chính sách về kiểm soát có thể bị lỗi thời không phù hợp với điều
kiện thực tế đã có những thay đổi.
Tóm lại, KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải bảo đảm tuyệt
đối; chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót, gian lận chứ không thể đảm bảo là
chúng không xảy ra. Trên cơ sở nhận định được đặc điểm và nguyên nhân của các hạn
chế của hệ thống KSNB, nhà quản lý có thể có các biện pháp thích hợp để kiểm soát
khắc phục các hạn chế này trong mức độ cho phép nhằm nâng cao tối đa tác dụng của
hệ thống KSNB trong đơn vị mình.
1.4

Khái quát chung về DNNNV có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.4.1 Khái niệm DNNVV:
Theo Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 (Nguyễn Tất Viễn,
2009, trang 6): “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao

dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích
thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Những năm gần đây, trên thế giới xuất hiện một loại mô hình doanh nghiệp có
tên “Doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Xu thế này ngày càng phổ biến ở các nước đang phát
triển, đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN, nó được xem như là một loại hình
kinh tế mới và tất yếu Việt Nam không nằm ngoài xu hướng đó.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay chỉ mang tính chất tương đối về
thời gian lẫn không gian. Hiện nay, Việt Nam phân loại DNNVV dựa vào 2 tiêu thức:
lao động thường xuyên và vốn đăng ký, cụ thể như sau:
1. Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 (Phan Văn Khải, 2001),
DNNVV được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất,
kinh doanh độc lập đã đăng ký theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10
tỉ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
2. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ (Nguyễn
Tấn Dũng, 2009) đã định nghĩa và đưa ra các chỉ tiêu quy định về vốn và số lao động
trong DNNVV như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
ưu tiên), cụ thể như sau:
Quy mô

DN siêu nhỏ
Số lao động
(người)

Khu vực
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy sản

Doanh nghiệp nhỏ
Tổng
nguồn
vốn

Số lao động
(người)

Doanh nghiệp vừa
Tổng
nguồn vốn

Số lao động
(người)

(tỉ đồng)

( tỉ đồng)
< 10

< 20

Trên 10 -> 200

Trên 20 -> 100

Trên 200 -> 300

II. Công nghiệp và
xây dựng

< 10

< 20

Trên 10 -> 200

Trên 20 -> 100

Trên 200 -> 300

III. Thương mại và
dịch vụ

< 10

< 10

Trên 10 -> 50

Trên 10 -> 50

Trên 50 -> 100

(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ)
Đã có không ít sự điều chỉnh đối với chỉ tiêu và các tiêu thức để phân loại và
xác định DNNVV và chắc chắn một điều rằng định nghĩa về DNNVV theo Nghị định
56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ chưa phải là cuối cùng bởi vì các chỉ
tiêu phân loại này thường xuyên thay đổi để phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã
hội qua từng thời kỳ.
1.4.2 Khái niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005 (Nguyễn Tất
Viễn, 2009, trang 6-8) có đưa ra một số khái niệm sau:
“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hay vô hình để
hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động đầu tư.
Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt
động đầu tư tại Việt Nam.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà
đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp
Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập hay mua lại.
Từ các khái niệm trên ta có thể rút ra một khái niệm chung như sau:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình kinh doanh mà
nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn, tự thiết lập các cơ sở SXKD cho riêng mình, tự quản lý,
khai thác hoặc thuê người quản lý, khai thác cơ sở này, hoặc hợp tác với đối tác nước