Tải bản đầy đủ
3 Những vấn đề chung về hoạt động đầu tư chứng khoán

3 Những vấn đề chung về hoạt động đầu tư chứng khoán

Tải bản đầy đủ

24

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản
lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, tín
phiếu, kỳ phiếu, các loại chứng chỉ quỹ đầu tư và thông qua các định chế tài chính trung
gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
1.3.2.2 Căn cứ vào thời gian và mục đích đầu tư
Trên cơ sở đó, các khoản đầu tư tài chính được chia làm hai loại: các khoản đầu tư
tài chính ngắn hạn và các khoản đầu tư tài chính dài hạn.
Đầu tư tài chính ngắn hạn: là các khoản đầu tư tài chính có thời hạn thu hồi vốn
trong vòng một năm (đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng
12 tháng) hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường (đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh
doanh bình thường dài hơn 12 tháng), bao gồm: chứng khoán đầu tư ngắn hạn và các
khoản đầu tư ngắn hạn khác.
Chứng khoán đầu tư ngắn hạn (Chứng khoán thương mại/kinh doanh): là chứng
khoán đầu tư có thời hạn thu hồi không quá một năm hoặc được doanh nghiệp nắm giữ
với mục đích kinh doanh, mua vào bán ra để kiếm lời trong thời gian ngắn hạn hưởng từ
chênh lệch giá hay là một tài sản tài chính thỏa mãn một trong các điều kiện sau:
-

Được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán lại/ mua lại trong thời gian ngắn;

-

Có bằng chứng về việc kinh doanh công cụ đó nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn;
hoặc

-

Công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ các công cụ tài chính phái sinh được xác
định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hoặc một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu
quả).
Chứng khoán đầu tư ngắn hạn bao gồm:
-

Cổ phiếu có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán.

-

Trái phiếu gồm trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ.

-

Các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật.

25

Các khoản đầu tư ngắn hạn khác là các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi
không quá một năm ngoại trừ các khoản chứng khoán đầu tư ngắn hạn, bao gồm:
-

Tiền gửi có kỳ hạn.

-

Đầu tư ngắn hạn khác: các khoản cho vay mà thời hạn thu hồi không quá một
năm.

Đầu tư tài chính dài hạn: là các khoản đầu tư tài chính khác ngoài các khoản đầu
tư tài chính ngắn hạn. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn có thời hạn thu hồi vốn lớn hơn
một năm (đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng)
hoặc dài hơn một chu kỳ kinh doanh bình thường (đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh
doanh bình thường dài hơn 12 tháng), bao gồm: chứng khoán đầu tư dài hạn và các khoản
đầu tư dài hạn khác.
Chứng khoán đầu tư dài hạn: là chứng khoán đầu tư có thời hạn thu hồi dài hơn
một năm hoặc chứng khoán được mua vào mà không xác định thời gian thu hồi,
với mục đích hưởng cổ tức và phân chia lợi nhuận của công ty phát hành, hoặc
chứng khoán đầu tư với mục đích nắm giữ đến ngày đáo hạn và chứng khoán đầu
tư sẵn sàng để bán.
-

Chứng khoán nắm giữ đến ngày đáo hạn: là các tài sản tài chính phi phái sinh với
các khoản thanh toán cố định hoặc có thể xác định và có kỳ đáo hạn cố định mà
đơn vị có ý định và có khả năng giữ đến ngày đáo hạn, ngoại trừ:
+ Các tài sản tài chính mà tại thời điểm ghi nhận ban đầu đã được xếp vào
nhóm ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh;
+ Các tài sản tài chính đã được xếp vào nhóm sẵn sàng để bán;
+ Các tài sản tài chính thỏa mãn định nghĩa về các khoản cho vay và phải thu.

-

Chứng khoán sẵn sàng để bán: là các tài sản tài chính phi phái sinh được xác định
là sẵn sàng để bán hoặc không được phân loại là:
+ Các khoản cho vay và các khoản phải thu;
+ Các khoản đầu tư giữ đến ngày đáo hạn;

26

+ Các tài sản tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh.
Chứng khoán đầu tư dài hạn bao gồm:
+ Cổ phiếu, trái phiếu có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán.
+ Trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư dài hạn.
Khi doanh nghiệp mua cổ phần, góp vốn với mục đích hưởng lãi hoặc nhằm chia
sẻ lợi ích, trách nhiệm với doanh nghiệp khác, căn cứ vào tỷ lệ quyền biểu quyết
mà doanh nghiệp (bên đầu tư) nắm giữ tại bên nhận đầu tư để xác định ảnh hưởng
của doanh nghiệp đối với hoạt động của bên nhận đầu tư sẽ được chia làm các loại
sau. Trong đó, tỷ lệ quyền biểu quyết thường được xác định theo tỷ lệ vốn góp của
nhà đầu tư so với tổng vốn chủ sở hữu của bên nhận đầu tư.
Tổng số vốn góp của nhà đầu tư trong

Tỷ lệ quyền biểu quyết
của nhà đầu tư trong đơn
vị nhận đầu tư

=

đơn vị nhận đầu tư

x

100%

Tổng số VCSH của đơn vị nhận đầu tư

Trường hợp tỷ lệ quyền biểu quyết khác với tỷ lệ vốn góp do có thỏa thuận khác
giữa nhà đầu tư và bên nhận đầu tư, quyền biểu quyết của nhà đầu tư được xác định căn
cứ vào biên bản thỏa thuận giữa nhà đầu tư và bên nhận đầu tư.
-

Đầu tư vào công ty con: khi nhà đầu tư nắm giữ trên 50% vốn chủ sở hữu (nắm

giữ trên 50% quyền biểu quyết) và có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt
động của doanh nghiệp đó. Trong trường hợp này doanh nghiệp là bên đầu tư được gọi là
công ty mẹ, bên nhận đầu tư được gọi là công ty con. Công ty mẹ có quyền kiểm soát
hoạt động của công ty con. Tuy nhiên, quyền kiểm soát vẫn được thực hiện khi nhà đầu
tư nắm giữ ít hơn 50% vốn chủ sở hữu (ít hơn 50% quyền biểu quyết) tại công ty con,
nhưng phải có thỏa thuận khác.
-

Đầu tư vào công ty liên kết: khi nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp thông

qua các công ty con từ 20% đến dưới 50% vốn chủ sở hữu (từ 20% đến dưới 50% quyền
biểu quyết) của bên nhận đầu tư. Nhà đầu tư sẽ không có quyền kiểm soát nhưng có ảnh
hưởng đáng kể đối với hoạt động của bên nhận đầu tư.

27

-

Vốn góp liên doanh: trong trường hợp này không đề cập đến tỷ lệ quyền biểu

quyết mà nhà đầu tư nắm giữ tại bên nhận đầu tư. Liên doanh là thỏa thuận bằng hợp
đồng của hai hoặc nhiều bên cùng thực hiện hoạt động kinh tế, mà hoạt động này được
đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh.
-

Các khoản đầu tư dài hạn khác: là các khoản đầu tư dài hạn mà không phải hình

thức đầu tư vào công ty con, góp vốn vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, đầu tư vào
công ty liên kết, bao gồm:
+ Khoản đầu tư công cụ tài chính vào đơn vị khác dưới hình thức góp vốn hoặc
mua cổ phần mà doanh nghiệp nắm giữ ít hơn 20% quyền biểu quyết tại bên
nhận đầu tư nên không có ảnh hưởng đáng kể đối với bên nhận đầu tư.
+ Đầu tư trái phiếu dài hạn
+ Khoản vốn cho vay dài hạn
+ Các khoản đầu tư dài hạn khác
Như vậy, một khoản đầu tư chứng khoán được xếp vào loại khoản đầu tư ngắn hạn
khi khoản đầu tư này có các loại chứng khoán có thị trường giao dịch được thực hiện
trong 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ sẽ được xếp vào loại đầu tư chứng khoán
ngắn hạn; các chứng khoán không đáp ứng điều kiện này được xếp vào loại đầu tư chứng
khoán dài hạn.
1.4 Đo lường khoản đầu tư chứng khoán trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế
(IAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)
Lần đầu tiên, kế toán đầu tư tài chính được nhắc đến trong dự thảo E26
“Accounting for Investments” của IASC/IASB vào tháng 10/1984. Và chuẩn mực kế toán
cho các khoản đầu tư (IAS 25) được Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) chính
thức ban hành năm 1986. Tuy nhiên, qua quá trình phát triển mạnh mẽ của các hoạt động
giao dịch và đầu tư cùng với sự bùng nổ của nhiều công cụ tài chính. IAS 25 đã bộc lộ
dần những hạn chế không đáp ứng được những vấn đề cơ bản của kế toán như vấn đề ghi
nhận, đo lường, trình bày và công bố. Chính vì vậy năm 2000, IASC thu hồi IAS 25 và
được thay thế bởi IAS 39 “Công cụ tài chính: ghi nhận và đo lường” và IAS 40 “Bất

28

động sản đầu tư”. Tuy nhiên, IAS 39 được các nhà kế toán, chuyên gia nhìn nhận là phức
tạp và khó hiểu. Chính vì vậy, từ tháng 4/2009 đến nay: dự án IFRS 9 “Công cụ tài
chính” sẽ thay thế IAS 39 (IASB). Theo đó, IFRS 9 hướng dẫn việc công bố, trình bày,
ghi nhận và đo lường công cụ tài chính. Các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên
kết, công ty liên doanh được hướng dẫn lần lượt theo IAS 27 (sửa đổi 2011) “Báo cáo tài
chính riêng”, IAS 28 (sửa đổi 2011) “Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh”.
1.4.1 Đo lường các khoản đầu tư vào chứng khoán
1.4.1.1 Ghi nhận và đo lường
Đo lường khi ghi nhận ban đầu:
Tất cả các khoản đầu tư đều ghi nhận ban đầu theo giá gốc (bằng với giá trị hợp lý
tại lúc mua). Các hướng dẫn cơ bản đánh giá chi phí đầu tư bằng cách cộng số tiền đã chi
ra/giá trị hợp lý của chứng khoán đã phát hành và các chi phí trực tiếp khác để có khoản
đầu tư. Riêng, đối với khoản đầu tư vào chứng khoán xếp vào nhóm đo lường theo giá trị
hợp lý đều ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý.
Đo lường sau ghi nhận ban đầu:
Chứng khoán thương mại: đo lường theo giá trị hợp lý. Các khoản thu nhập lãi,
lãi/lỗ thực, lãi/lỗ chưa thực hiện hay cổ tức sẽ ghi nhận vào thu nhập/chi phí phát sinh
trong kỳ vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn: đo lường theo giá gốc đã phân bổ. Thu nhập
lãi tính vào trong thu nhập. Lãi/lỗ thực cũng tính vào trong thu nhập/chi phí trong kỳ.
Chứng khoán sẵn sàng để bán: chứng khoán nợ đo lường theo giá gốc đã phân bổ.
Đối với chứng khoán vốn đo lường theo giá trị hợp lý. Thu nhập lãi, cổ tức và bất kỳ
lãi/lỗ thực từ việc bán chứng khoán đều được tính vào thu nhập/chi phí hoạt động. Với
chứng khoán vốn doanh nghiệp vẫn còn nắm giữ, khoản lãi/lỗ chưa thực ghi nhận vào thu
nhập tổng hợp khác (OCI).
Nếu khoản chứng khoán đầu tư được tái phân loại vào nhóm chứng khoán đầu tư
đo lường theo giá trị hợp lý, thì giá trị hợp lý của khoản chứng khoán đầu tư được xác