Tải bản đầy đủ
2 Đo lường theo giá trị hợp lý

2 Đo lường theo giá trị hợp lý

Tải bản đầy đủ

14

đầu quan tâm. Tuy nhiên đến cuộc khủng hoảng về vay và tiết kiệm năm 1980 thì giá thị
trường mới được áp dụng vào một số khoản đầu tư chứng khoán tại Mỹ.
1.2.1.3 Giai đoạn từ 1990 đến 2005: Thời kỳ phát triển của kế toán giá trị hợp lý
Trong thời kỳ này IASC/IASB tiếp tục đẩy mạnh việc sử dụng giá trị hợp lý trong
các chuẩn mực báo báo tài chính quốc tế (IFRS) như IAS 39, IAS 40, IFRS 3, IFRS 9...
Sự kiện đáng chú ý trong giai đoạn này là năm 2003, Hội đồng chuẩn mực kế toán
tài chính Mỹ (FASB – Financial Accounting Standards Board) đã thành lập nhóm chuyên
nghiên cứu về giá trị hợp lý. Đến năm 2004 phát hành dự thảo. Tuy nhiên chuẩn mực này
chỉ chú trọng cách xác định hơn là phạm vi áp dụng giá trị hợp lý.
1.2.1.4 Giai đoạn từ 2005 đến nay: Thời kỳ ra đời chuẩn mực về giá trị hợp lý
Bắt đầu tháng 9/2005, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố “Văn
bản thảo luận về các phương pháp đo lường có sử dụng giá trị hợp lý”.
Vào tháng 5/2009, IASB tiếp tục công bố “Dự thảo chuẩn mực báo cáo tài chính
quốc tế về đo lường”. Trong đó, định nghĩa về giá trị hợp lý trong dự thảo đưa ra tương
tự với định nghĩa giá trị hợp lý được đưa ra trong báo cáo số 157 (FAS 157) “Đo lường
giá trị hợp lý” của Hội đồng kế toán tài chính Mỹ-FASB ban hành năm 2006.
Đến tháng 5/2011, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế về “Đo lường giá trị hợp
lý” (IFRS 13 – Fair value Measurement) chính thức ban hành. Và bắt đầu có hiệu lực vào
ngày 01/01/2013.
Như vậy, IFRS 13 ra đời trong dự án hội tụ giữa IASB và FASB. IASB ban hành
IFRS 13 và FASB điều chỉnh lại FAS 157 nay là chủ đề 820. Về cơ bản, IFRS 13 và FAS
157 không có sự khác biệt đáng kể nào vì IFRS 13 ra đời từ sự thống nhất lẫn nhau giữa
IASB và FASB về việc áp dụng giá trị hợp lý.
1.2.2 Đo lường theo giá trị hợp lý trên cơ sở chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
IFRS 13

15

1.2.2.1 Định nghĩa
Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế “Đo lường giá trị hợp lý” (IFRS 13),
đoạn 9 có đưa ra định nghĩa giá trị hợp lý như sau “…Giá có thể nhận được khi bán một
tài sản, hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao
dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường.” (The price that
would be received to sell an asset or paid to transfer a liability in an orderly transaction
between market participants at the measurement date).
Giá có thể nhận được: IFRS 13 khẳng định dựa trên quan điểm giá đầu ra, giá trị
hợp lý được xác định theo giá bán, không phải theo giá mua tức là lấy giá đầu ra
làm chuẩn.
Giao dịch bình thường: giao dịch không có sự bắt buộc, cưỡng ép buộc phải bán.
Các bên tham gia thị trường: giá được định bởi các bên mua bán chứ không phải
giá được định bởi doanh nghiệp báo cáo.
1.2.2.2 Quy trình đo lường theo giá trị hợp lý
Một quy trình xác định giá trị hợp lý được quy định rất chặt chẽ. Trong đó, phải
xác định được: đối tượng đo lường, thị trường giao dịch, xác định các bên tham gia thị
trường, phân tích dữ liệu đầu vào và cuối cùng là lựa chọn phương pháp đo lường.
Đối tượng đo lường:
Đầu tiên là loại tài sản nào được đo lường. Mỗi một loại tài sản có thể khác nhau
về vấn đề xác định giá trị hợp lý. Chính vì vậy, cần phải xem xét các đặc điểm của loại tài
sản được đo lường như tình trạng, địa điểm của chúng.
Thị trường giao dịch:
Thị trường để xác định giá trị hợp lý phải là thị trường chính của giao dịch chứ
không phải thị trường nào chúng ta cũng lấy được vì giá trên thị trường chính giá đó mới
là giá thực sự của thị trường và dùng để lấy tham chiếu. Trường hợp không có thị trường
chính thì đó phải là thị trường có giá tốt nhất. Đồng thời, doanh nghiệp phải có thể tiếp

16

cận thị trường chính. Nếu doanh nghiệp không thể tiếp cận được thị trường chính thì
doanh nghiệp phải có thể tiếp cận thị trường có giá tốt nhất trong tất cả các thị trường.
Các bên tham gia thị trường:
Không nhất thiết là doanh nghiệp cụ thể nào mà phải dựa trên 4 yêu cầu sau: (1)
Không phải là các bên liên quan, (2) Có đầy đủ hiểu biết và thông tin về đối tượng đo
lường, (3) Khả năng tham gia giao dịch, (4) Sẵn sàng tham gia vào giao dịch. Khả năng
tham gia giao dịch tức là phải có thể thực hiện được chứ không phải là cái giao dịch nêu
ra mà không thể thực hiện được.
Dữ liệu đầu vào: Thang áp dụng giá trị hợp lý (fair value hierarchy)
Dữ liệu đầu vào được phân ra thành ba cấp độ:
Cấp độ 1 (Level 1)
Dữ liệu đầu vào có thể quan sát được phản ánh giá tham chiếu mà không cần bất
kỳ điều chỉnh nào của tài sản trên thị trường hoạt động mà doanh nghiệp báo cáo có thể
tiếp cận vào thời điểm đo lường. Tức là các dữ liệu tham chiếu là giá niêm yết (chưa điều
chỉnh) của tài sản trên thị trường hoạt động. Giá được trích dẫn trong một thị trường hoạt
động cung cấp bằng chứng đáng tin cậy nhất để xác định giá trị hợp lý và được sử dụng
mà không cần điều chỉnh để đo lường giá trị hợp lý.
Cấp độ 1 đầu vào sẽ có sẵn cho nhiều tài sản tài chính, một số trong đó có thể
được trao đổi trong nhiều thị trường đang hoạt động (ví dụ như trên các sàn giao dịch
khác nhau). Vì vậy, sự nhấn mạnh trong cấp độ 1 là phải thỏa mãn được cả hai điều kiện
sau đây:
-

Thị trường dùng để xác định giá trị hợp lý phải là thị trường chính, hoặc trong sự
vắng mặt của chính thị trường thì đó là thị trường thuận lợi nhất hay còn được gọi
là thị trường có giá tốt nhất.

-

Đồng thời, doanh nghiệp phải có thể tiếp cận thị trường chính hay thị trường có
giá tốt nhất tại thời điểm đo lường.

Cấp độ 1 này là cấp độ tốt nhất, đáng tin cậy nhất.

17

Cấp độ 2 (Level 2)
Dữ liệu đầu vào có thể quan sát được nhưng không phải là giá tham chiếu của tài
sản ở cấp độ 1. Tức là chúng ta có điều chỉnh, giá có điều chỉnh một ít. Dữ liệu tham
chiếu cấp độ 2 bao gồm:
-

Trích dẫn giá đối với tài sản tương tự tại các thị trường đang hoạt động.

-

Trích dẫn giá trùng hoặc tương tự đối với tài sản tại các thị trường mà không hoạt
động.

-

Ngoài giá niêm yết quan sát thì có thể thu thập những dữ liệu sau, ví dụ:
+ Tỷ lệ lãi suất và đường cong lãi suất
+ Biến động lợi nhuận, tính thanh toán
+ Mức độ rủi ro: rủi ro tín dụng

-

Dữ liệu tham chiếu phần lớn có nguồn gốc hay được chứng thực từ các dữ liệu thị
trường có thể thu thập.

Cấp độ 2 là mức tốt thứ 2, có độ tin cậy sau liền kề cấp độ 1.
Cấp độ 3 (Level 3)
Dữ liệu đầu vào không thể qua sát được nghĩa là mình phải tính ra do những dữ
liệu này không thể thu thập trên thị trường.
Đầu vào không quan sát được sử dụng để đo lường giá trị hợp lý trong phạm vi
đầu vào tương ứng được quan sát không có sẵn, do đó cho phép tình huống trong đó có
rất ít, nếu có, thị trường hoạt động cho tài sản tại thời điểm đo lường. Vì vậy, các dữ liệu
đầu vào phải phản ánh giả định rằng những người tham gia thị trường sẽ sử dụng khi đo
lường tài sản, bao gồm cả các giả định về rủi ro.
Giả định về rủi ro bao gồm rủi ro vốn có trong một kỹ thuật xác định giá trị cụ thể
được sử dụng để đo lường giá trị hợp lý (chẳng hạn như một mô hình giá cả) và rủi ro
vốn có trong các yếu tố đầu vào kỹ thuật đo lường.
Doanh nghiệp có trách nhiệm phát triển các yếu tố đầu vào không quan sát được
bằng cách sử dụng thông tin tốt nhất có sẵn trong các trường hợp.
Cấp độ này có độ tin cậy yếu.

18

Phương pháp đo lường:
Mục tiêu của việc sử dụng phương pháp đo lường là để xác định giá có thể nhận
được khi bán một tài sản, hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải
trả trong một giao dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại thời điểm đo
trong điều kiện thị trường hiện tại.
Hiện nay, giá trị hợp lý sẽ được áp dụng tùy theo trường hợp theo ba phương pháp
đó là: phương pháp thị trường, phương pháp thu nhập và phương pháp chi phí. Các khía
cạnh chính của những phương pháp trên được tóm tắt trong đoạn dưới đây. Một doanh
nghiệp được sử dụng kỹ thuật đánh giá phù hợp với một hoặc nhiều của những phương
pháp tiếp cận để đo lường giá trị hợp lý.
-

Phương pháp thị trường (Market approach):
Phương pháp thị trường sử dụng giá và các thông tin khác có liên quan được tạo ra

bởi các giao dịch trên thị trường liên quan đến giống hệt nhau hoặc so sánh (tức là tương
tự) tài sản hoặc một nhóm các tài sản.
Đây được xem là phương pháp dễ hiểu nhất. Chúng ta chỉ cần sử dụng thông tin từ
thị trường và các giao dịch có thể so sánh được để chúng ta áp dụng. Tài sản được giao
dịch trên thị trường thì giá trị hợp lý sẽ được đo lường bằng cách lấy giá niêm yết của
một đơn vị tài sản nhân với số lượng mà doanh nghiệp nắm giữ.
Kỹ thuật đo lường phù hợp với phương pháp thị trường bao gồm ma trận giá cả.
Ma trận giá cả là một kỹ thuật toán học được sử dụng chủ yếu để đánh giá một số loại
công cụ tài chính, chẳng hạn như chứng khoán nợ, mà không dựa hoàn toàn vào giá niêm
yết cụ thể chứng khoán, mà là dựa vào mối quan hệ của các chứng khoán khác.
-

Phương pháp thu nhập (Income approach):
Được tính trên cơ sở chiết khấu các dòng tiền thuần trong tương lai. Tức là chúng

ta nếu sử dụng tài sản đó mang vào sử dụng thì nó mang lại dòng tiền thuần trong tương
lai là bao nhiêu? Và chúng ta quy dòng tiền thuần trong tương lai đó về giá trị hiện tại thì
chúng ta tính được giá trị hợp lý của nó.

19

Các kỹ thuật đánh giá được sử dụng trong phương pháp này bao gồm:
+ Phương pháp tính hiện giá: gồm phương pháp chiết khấu dòng tiền/thu nhập
hoặc tính giá trị hiện tại kỳ vọng.
+ Các mô hình đo lường quyền chọn: gồm có hai kỹ thuật đo lường là mô hình nhị
phân ( A lattice model) và mô hình Black – Scholes.
+ Phương pháp thu nhập dư ra nhiều kỳ (The multi-period excess earnings): áp
dụng để đo lường một số tài sản vô hình.
Khi tính hiện giá phải cần thỏa mãn các điều kiện sau:

-

-

Ước tính dòng tiền trong tương lai

-

Khả năng biến thiên của dòng tiền

-

Giá trị theo thời gian của tiền

-

Mức chiết khấu phụ trội để bù đắp rủi ro

-

Dòng tiền và mức chiết khấu phải đồng nhất

Phương pháp chi phí (Cost approach):
Cách tiếp cận chi phí phản ánh số tiền đó sẽ được yêu cầu hiện tại để thay thế cho

năng lực dịch vụ của một tài sản (thường được gọi là chi phí thay thế). Tức, phương pháp
chi phí tính trên chi phí cần thiết để tạo ra một tài sản tương tự. Điều này có nghĩa là nếu
tạo ra tài sản tương tự như vậy chúng ta sẽ tốn chi phí là bao nhiêu.
Chẳng hạn như, trong nhiều trường hợp, phương pháp chi phí được sử dụng để đo
lường giá trị hợp lý của tài sản hữu hình sử dụng kết hợp với các tài sản khác.
Sơ đồ 1-1 dưới đây thể hiện quy trình xác định giá trị hợp lý.

20

Sơ đồ 1-1: Xác định giá trị hợp lý
Đối tượng đo lường
Thị trường giao dịch
Các bên tham gia thị trường
Dữ liệu đầu vào
Phương pháp đo lường
Nguồn: Vũ Hữu Đức, 2013.

Như vậy, thoạt nhìn giá trị hợp lý có vẻ như giá thị trường nhưng nó không phải là
giá thị trường. Còn dùng giá thị trường chỉ là một cách thôi. Khái niệm giá thị trường
dùng trong giá trị hợp lý là cái giá mà ta sẽ lấy dữ liệu để tính theo các phương pháp. Ta
dựa vào giá thị trường để giá tính đầu vào, dựa vào giá thị trường để tính giá đầu ra.
Lưu ý: khi lấy giá trị trên thị trường đó phải là thị trường chính của giao dịch. Nếu
không có thị trường chính thì ta chọn thị trường có giá tốt nhất trong tất cả các thị trường.
IFRS13 không đề xuất thứ tự ưu tiên phương pháp nào mà chỉ xác định thứ tự ưu tiên của
các dữ liệu tham chiếu đầu vào cho việc đo lường. Bản thân doanh nghiệp phải tự xác
định thứ tự ưu tiên các phương pháp sao cho phù hợp với dữ liệu. Đồng thời, trong
trường hợp cần thiết, doanh nghiệp có thể sử dụng kết hợp vài phương pháp.
1.2.2.3 Ghi nhận
Ghi nhận ban đầu:
Trong một số trường hợp, giá trị hợp lý được sử dụng ghi nhận ban đầu khoản đầu
tư tài chính được hình thành mà doanh nghiệp không phát sinh chi phí giao dịch (giá trị
hợp lý trong trường hợp này được sử dụng là giá gốc ghi nhận ban đầu).
Trong một số trường hợp khác, giá trị hợp lý được sử dụng để ghi nhận ban đầu
khoản đầu tư tài chính ngay cả khi giá gốc của khoản đầu tư tài chính tồn tại trong giao

21

dịch. Tại thời điểm ghi nhận ban đầu đó, khoản chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá gốc
sẽ được ghi nhận vào lãi/lỗ hoạt động trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Đánh giá sau ghi nhận ban đầu:
Chênh lệch do đánh giá sau ghi nhận ban đầu được ghi nhận vào lãi/lỗ hoạt động
trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đối với tài sản tài chính kinh doanh (Held for
trading) và tài sản tài chính được lựa chọn ghi theo giá trị hợp lý thông qua lãi/lỗ
(FVTPL: Fair value through profit or loss) ngay từ khi ghi nhận ban đầu.
Hoặc điều chỉnh trực tiếp vào vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán: trường
hợp tài sản tài chính đo lường theo giá trị hợp lý với chênh lệch giá trị hợp lý được ghi
nhận vào thu nhập tổng hợp khác (FVOCI: Fair value through other comprehensive
income).
1.2.3 Các tranh luận về đo lường theo giá trị hợp lý
Hình thành từ đầu những năm của thập niên 70, trải qua hơn 40 năm phát triển. Dù
giá trị hợp lý đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng cho đến nay
vẫn còn nhiều tranh luận trái chiều về ủng hộ và phản đối đo lường theo giá trị hợp lý.
Dưới đây là một số quan điểm ủng hộ và phê phán nổi bật được tổng kết từ các công trình
nghiên cứu của các chuyên gia:
1.2.3.1 Một số quan điểm phê phán về đo lường theo giá trị hợp lý
Với lý lẽ mạnh nhất, cơ bản nhất, phe phản đối đưa ra nhằm chỉ trích giá trị hợp lý
là giá trị hợp lý không thích hợp và phản ánh không đúng giá trị các tài sản giữ lâu dài vì
giữ lâu dài nên không cần đánh giá lại. Giá bán có thể bị xuyên tạc do thị trường không
hiệu quả bởi không phải thị trường nào cũng tốt vì có thể bị ảo: độc quyền, rối loạn. Giá
trị hợp lý dựa trên các mô hình dẫn đến thiếu tính đáng tin cậy và giá trị hợp lý tác động
xấu đến hệ thống tài chính. Với công cụ tài chính giữ đến ngày đáo hạn thì họ dùng giá
gốc vì họ cho rằng họ không có bán. Liên quan đến yêu cầu về vốn định mức của nhà
nước, số khác nói: giá gốc tốt hơn giá trị hợp lý. Trong thời kỳ bùng nổ, việc sử dụng giá
trị hợp lý có thể làm tăng lợi nhuận. Và trong thời kỳ bong bóng đó, người ta cho rằng

22

nếu dùng giá thị trường thì giá thị trường cũng là bong bóng. Dẫn đến thổi phòng lợi
nhuận của các doanh nghiệp gây ra khủng hoảng tài chính. Và thời kỳ suy thoái: cũng sẽ
tạo ra sự sụt giảm đáng kể trong lợi nhuận gây biến động lớn trên báo cáo tài chính
(Christian Laux & Christian Leuz, 2009).
1.2.3.2 Một số quan điểm ủng hộ về đo lường theo giá trị hợp lý
Phe tán thành thì cho rằng là giá trị hợp lý phản ảnh điều kiện thị trường hiện tại vì
nó dựa trên giá thị trường. Cung cấp thông tin không bị lỗi thời, rõ ràng hơn về điều kiện
hiện nay của tài sản, tăng cường tính minh bạch. Trong khi, giá gốc bản thân nó nghèo
nàn về thông tin, chỉ là cái giá lịch sử. Giá trị hợp lý khuyến khích các nhà quản lý điều
chỉnh hành vi thích hợp. Đối với công cụ tài chính cho dù cho giữ đến ngày đáo hạn
nhưng tình trạng của nó hiện nay ra sao. Thực lực của doanh nghiệp, thực trạng tài sản
nắm giữ là bao nhiêu thì người đọc cần biết. Liên quan đến yêu cầu về vốn định mức của
nhà nước, điều đó không đúng bởi yêu cầu của nhà nước dù dựa trên giá gốc thì nó cũng
sai lệch vì nó dựa trên cái giá đã lỗi thời. Dù giá trị hợp lý có thể bị tác động bởi thị
trường không hiệu quả. Nhưng tác giả cho rằng có thể giải quyết bằng cách khác như
thuyết minh chứ không nhất thiết trở lại giá gốc. Thời kỳ bùng nổ, việc sử dụng giá trị
hợp lý có thể làm tăng lợi nhuận nhưng nó lại cung cấp thông tin về khả năng xảy ra
khủng hoảng. Trong thời kỳ bong bóng, người ta cho rằng nếu dùng giá thị trường thì giá
thị trường cũng là bong bóng. Dẫn đến thổi phòng lợi nhuận của các doanh nghiệp gây ra
khủng hoảng tài chính. Nhưng điều đó cũng chính bản thân hệ thống tài chính đã thể hiện
rất rõ bởi vì nó thể hiện rõ rằng trong lợi nhuận chúng ta có. Trong đó bao nhiêu lợi
nhuận là do đánh giá lại, bao nhiêu là do thực sự kinh doanh và như vậy người đọc cũng
có thể dự phòng rằng khả năng bong bóng có thể xảy ra. Còn dùng giá gốc sẽ không thấy
bong bóng. Thời kỳ suy thoái, sẽ tạo ra sự sụt giảm đáng kể trong lợi nhuận. Nhưng giá
đó không được coi là giá trị hợp lý vì giá đó là giá ép buộc phải bán. Giá trị hợp lý không
phải là nguyên nhân của khủng hoảng tài chính, không có bằng chứng chứng minh giá trị
hợp lý gây ra vấn đề, lỗi không phải do giá trị hợp lý (Christian Laux & Christian Leuz,
2009).

23

1.3 Những vấn đề chung về hoạt động đầu tư chứng khoán
1.3.1 Khái niệm và mục đích của hoạt động đầu tư chứng khoán
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, một số doanh nghiệp có thể có một số vốn
tạm thời nhàn rỗi. Nhằm nâng cao hiểu quả sử dụng vốn hơn nữa cũng như để tăng thêm
thu nhập, doanh nghiệp dùng số vốn nhàn rỗi này mang ra bên ngoài doanh nghiệp để đầu
tư, trong đó có đầu tư chứng khoán. Từ đó, phát sinh một loại tài sản là những khoản đầu
tư tài chính. Như vậy, các khoản đầu tư tài chính là các khoản tài sản đầu tư ra ngoài
doanh nghiệp nhằm mục đích sử dụng hợp lý vốn để tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Như vậy, mục đích cuối cùng của hoạt động đầu tư tài chính là doanh nghiệp tận
dụng mọi tài sản, nguồn vốn nhàn rỗi để tham gia vào hoạt động đầu tư với mục đích sinh
lời, kiếm thêm lợi nhuận ngoài lợi nhuận có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp cũng như giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh, tiết kiệm chi
phí, đặc biệt là nhà đầu tư và bên nhận đầu tư cùng tận dụng được thế mạnh của nhau để
cùng nhau phát triển.
Một số hoạt động về đầu tư tài chính như mua bán chứng khoán, đầu tư trái phiếu,
đầu tư cổ phiếu để hưởng cổ tức, tham gia vào hội đồng quản trị để biểu quyết các chính
sách kinh tế tài chính nhằm làm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, một số
biểu hiện về đầu tư tài chính như mua bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn, đầu tư để trở
thành công ty mẹ, công ty liên kết, góp vốn liên doanh…
1.3.2 Phân loại
Việc phân loại các khoản đầu tư tài chính khi ghi nhận ban đầu hết sức quan trọng
vì đây là căn cứ để xác định cơ sở đo lường từng nhóm đầu tư tài chính.
Có nhiều cách phân loại về đầu tư tùy theo mục đích quản lý. Dưới đây là hai cách
phân loại phổ biến:
1.3.2.1 Căn cứ vào hình thức quản lý hoạt động đầu tư

24

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản
lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, tín
phiếu, kỳ phiếu, các loại chứng chỉ quỹ đầu tư và thông qua các định chế tài chính trung
gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
1.3.2.2 Căn cứ vào thời gian và mục đích đầu tư
Trên cơ sở đó, các khoản đầu tư tài chính được chia làm hai loại: các khoản đầu tư
tài chính ngắn hạn và các khoản đầu tư tài chính dài hạn.
Đầu tư tài chính ngắn hạn: là các khoản đầu tư tài chính có thời hạn thu hồi vốn
trong vòng một năm (đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng
12 tháng) hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường (đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh
doanh bình thường dài hơn 12 tháng), bao gồm: chứng khoán đầu tư ngắn hạn và các
khoản đầu tư ngắn hạn khác.
Chứng khoán đầu tư ngắn hạn (Chứng khoán thương mại/kinh doanh): là chứng
khoán đầu tư có thời hạn thu hồi không quá một năm hoặc được doanh nghiệp nắm giữ
với mục đích kinh doanh, mua vào bán ra để kiếm lời trong thời gian ngắn hạn hưởng từ
chênh lệch giá hay là một tài sản tài chính thỏa mãn một trong các điều kiện sau:
-

Được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích bán lại/ mua lại trong thời gian ngắn;

-

Có bằng chứng về việc kinh doanh công cụ đó nhằm mục đích thu lợi ngắn hạn;
hoặc

-

Công cụ tài chính phái sinh (ngoại trừ các công cụ tài chính phái sinh được xác
định là một hợp đồng bảo lãnh tài chính hoặc một công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu
quả).
Chứng khoán đầu tư ngắn hạn bao gồm:
-

Cổ phiếu có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán.

-

Trái phiếu gồm trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ.

-

Các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật.