Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG CÁC KHOẢN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THEO GIÁ TRỊ HỢP LÝ

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG CÁC KHOẢN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THEO GIÁ TRỊ HỢP LÝ

Tải bản đầy đủ

8

1.1.2.1 Thang đo danh nghĩa (Nominal)
Trong thang đo danh nghĩa, các con số chỉ có ý nghĩa như là những nhãn hiệu, và
không phải là giá trị định lượng.
Trong kế toán, dùng thang đo danh nghĩa là để phân loại và biểu hiện tài sản và nợ
phải trả, vốn chủ sở hữu,…dưới dạng những con số khác nhau.
1.1.2.2 Thang đo thứ tự (Ordinal)
Thang đo thứ tự có đặc điểm như thang đo danh nghĩa cộng thêm đặc tính có trật
tự thứ bậc, được thiết lập khi có một hoạt động xếp hạng các đối tượng trong một câu hỏi
có liên quan đến một tài sản xác định. Chẳng hạn như: nhà đầu tư A có 7 cơ hội đầu tư
với số tiền 100 triệu đồng. Nhà đầu tư phải xếp hạng cơ hội để ưu tiên sử dụng 100 triệu
đồng này.
1.1.2.3 Thang đo khoảng cách (Interval)
Thang đo khoảng cách có sức mạnh như thang đo danh nghĩa và thang đo thứ tự,
cộng thêm một đặc tính phù hợp với khái niệm tương đồng về khoảng cách. Thang đo
khoảng cách cho thông tin nhiều hơn thang đo thứ tự. Chẳng hạn như: khung thời gian
khấu hao tài sản cố định.
1.1.2.4 Thang đo tỷ số (Ratio)
Thang đo tỷ số có tất cả đặc tính của các thang đo trên, cộng với một đặc tính có
nguồn gốc tuyệt đối là giá trị không, thể hiện số lượng thực của một biến số. Là thang đo
mà ở đó: biết được sự xếp hạng các đối tượng hoặc sự kiện liên quan đến tài sản xác định,
biết được khoảng cách giữa các đối tượng, biết được nguồn gốc duy nhất, điểm 0 (tự
nhiên) xuất hiện nơi mà khoảng cách từ nó đến mục tiêu là tối thiểu, chuyển tải hầu hết
thông tin. Chẳng hạn như: nếu A có giá 10 triệu đồng và B có giá 40 triệu đồng thì có thể
nói B gấp bốn giá A. Điểm 0 xuất hiện.
1.1.3 Các cơ sở đo lường
Cơ sở dùng để đo lường giá trị tài sản bao gồm: giá đầu vào và giá đầu ra.

9

1.1.3.1 Giá đầu vào (Exchange input value)
Giá đầu vào được sử dụng trong đo lường giá trị tài sản có thể là:
-

Giá gốc (Historical cost): là số tiền (hoặc tương đương tiền) đã trả hay giá trị hợp
lý tại thời điểm có tài sản (IASB Framework). Tức là số tiền (hoặc tương đương
tiền) đã thanh toán để có một tài sản hoặc thanh toán một khoản nợ phải trả.

-

Giá hiện hành (Current cost): là số tiền hoặc tương đương tiền sẽ phải trả để có
được tài sản tương tự vào thời điểm hiện tại. Hay là số tiền hoặc tương đương tiền
sẽ phải trả để có một tài sản tương đương hoặc được nhận để đổi lấy một khoản trả
tương đương.

1.1.3.2 Giá đầu ra (Exchange output value)
Giá đầu ra được sử dụng trong đo lường giá trị tài sản có thể là:
-

Giá trị thuần có thể thực hiện được (Net realizable value): là số tiền (hoặc tương
đương tiền) thuần sẽ thu được khi bán tài sản hoặc sẽ phải trả để thanh toán khoản
nợ hiện tại.

-

Hiện giá (Present value): giá trị hiện tại của các khoản tiền thuần sẽ nhận từ việc
sử dụng tài sản hoặc sẽ trả để thanh toán nợ.

-

Giá trị hợp lý (Fair value): Giá có thể nhận được khi bán một tài sản, hoặc có thể
được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch bình
thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường.

1.1.4 Các giả thiết và nguyên tắc kế toán tác động đến việc đo lường trong kế toán
Thông tin kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phục vụ lập báo cáo tài
chính. Để tránh sự tùy tiện cũng như sự chủ quan việc đo lường trong kế toán ảnh hưởng
đến thông tin trên báo cáo tài chính. Vì vậy, các giả thiết và nguyên tắc kế toán được đề
cập trong khuôn mẫu lý thuyết của Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS Framework)
được xem là cơ sở pháp lý trong việc tổ chức và và thực hiện kế toán, chi phối việc đo
lường:

10

Giả thiết về tính hoạt động liên tục (Going concern)
Nguyên tắc này đặt ra giả thiết là doanh nghiệp đang hoạt động và trong thời gian
tới cũng không có ý định ngừng hoạt động ít nhất là một năm. Với giả thiết này là cơ sở
lập báo cáo tài chính. Trừ khi giả thiết này bị vi phạm thì giá trị thuần có thể thực hiện
được sẽ được sử dụng lập báo cáo tài chính.
Cơ sở dồn tích (Accruals basis)
Nguyên tắc này bắt buộc việc ghi nhận tài sản, nguồn vốn, doanh thu và chi phí
dựa trên cơ sở nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chứ không phải dựa trên cơ sở thực thu, thực
chi bằng tiền hoặc tương đương tiền.
Phù hợp (Matching)
Nguyên tắc này yêu cầu việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.
Khách quan (Neutrality)
Nguyên tắc này chi phối rất lớn đến việc đo lường. Nó đòi hỏi các loại giá được sử
dụng có thể kiểm chứng được. Thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải khách
quan. Trước đòi hỏi khắc khe đó, hệ thống kế toán dựa trên giá gốc là ứng cử viên sáng
giá đáp ứng được yêu cầu này. Đó cũng là lý do mà hầu như các quốc gia trên thế giới
đều chấp nhận giá gốc.
Thận trọng (Prudence)
Với mục tiêu chính tránh thổi phòng giá trị tài sản hay giấu bớt nghĩa vụ, chi phí.
Nguyên tắc này yêu cầu không được đánh giá cao hơn giá trị của các loại tài sản và các
khoản doanh thu cũng như không được đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải
trả và chi phí.
Có thể so sánh (Comparability)
Để phục vụ cho yêu cầu so sánh ít nhất là trong kỳ kế toán năm. Nguyên tắc này
bắt buộc việc sử dụng chính sách và phương pháp hạch toán nhất quán liên tục trong

11

nhiều kỳ. Nếu doanh nghiệp muốn thay đổi chính sách và phương pháp hạch toán thì phải
giải trình nguyên nhân và phải thuyết minh ảnh hưởng của sự thay đổi này.
1.1.5 Các mô hình đo lường trong kế toán
Do xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, chính vì vậy mà trong kế toán có
nhiều mô hình đo lường khác nhau. Sau đây là các mô hình đo lường giá trị tài sản trong
kế toán:
1.1.5.1 Kế toán theo giá gốc (Historical cost Accounting)
Từ khi hệ thống kế toán kép của Pacioli ra đời năm 1494. Tính đến nay, đây là hệ
thống định giá truyền thống lâu đời nhất và cho đến nay hệ thống này vẫn còn giữ vững
vai trò chủ chốt trong thực tiễn kế toán.
Giá gốc còn được gọi là giá lịch sử, giá phí hay giá thực tế. Kế toán theo giá gốc là
kế toán theo tiền hoặc tương đương tiền đã trả hay giá trị hợp lý tại thời điểm có tài sản
(IASB Framework). Một số giả định cơ bản được đưa ra như những tiên đề làm cơ sở cho
kế toán theo giá gốc, bao gồm: hoạt động liên tục, kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ, nguyên tắc
ghi nhận doanh thu và nguyên tắc phù hợp.
Một trong những cơ sở cho nhà quản lý đánh giá kết quả hoạt động trong quá khứ
và đưa ra kế hoạch trong tương lai đó là số liệu kế toán. Theo nghiên cứu của Ijiri (1975)
đưa ra ba lý do khiến giá gốc phù hợp cho việc ra quyết định của nhà quản lý: giá gốc ảnh
hưởng đến việc đánh giá và ra quyết định, giá gốc là đầu vào để xác định “sự thỏa mãn”
và giá gốc được sử dụng tương thích với môi trường chung quanh người ra quyết định. Ví
dụ, giá gốc là cơ sở cho việc tính thuế. Bên cạnh đó, giá gốc có tính khách quan vì có
bằng chứng chứng minh. Sự thay đổi giá gốc có thể được thuyết minh. Đến nay, chưa có
bằng chứng cho thấy phải thay thế giá gốc.
Tuy nhiên, trong giai đoạn nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của
lạm phát thì hệ thống kế toán dựa trên giá gốc đã bộc lộ nhiều hạn chế. Giá gốc không
phản ánh được giá trị các khoản đầu tư vào thời điểm hiện tại, không cung cấp thông tin
hữu ích, không phản ánh đúng lợi nhuận dưới góc độ kinh tế. Trong thời kỳ lạm phát giá
cả tăng thì lợi nhuận tính theo giá gốc cao hơn lợi nhuận tính theo giá hiện hành dẫn đến

12

chia cổ tức vượt “lợi nhuận thực”. Các tiên đề nguyên tắc hoạt động liên tục và nguyên
tắc phù hợp làm cơ sở cho kế toán theo giá gốc là không hiện thực bởi vì không có doanh
nghiệp nào là tồn tại mãi mãi trong tương lai hay không phải lúc nào cũng xác định được
sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí vì tiêu thức phân bổ doanh thu và chi phí là tùy
chọn (tùy hứng) cho thấy không có cơ sở cho việc lựa chọn tiêu thức phân bổ doanh thu
và chi phí. Mô hình giá gốc phải dùng giải pháp điều chỉnh (lập dự phòng), ví dụ như lập
dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn. Giá gốc là thứ phái sinh của
nguyên tắc thận trọng.
Tóm lại, kế toán theo giá gốc cho dù còn nhiều tồn tại nhưng đây vẫn là mô hình
quan trọng nhất: đảm bảo tính khách quan do có bằng chứng, thuyết minh rõ ràng khi có
sự thay đổi. Vì vậy, không cần thiết thay thế.
1.1.5.2 Kế toán theo mức giá chung (General price-level accounting)
Kế toán theo mức giá chung là phản ánh giá trị tài sản thuần theo giá gốc đã được
điều chỉnh theo mức giá chung.
1.1.5.3 Kế toán theo giá hiện hành (Current cost accounting)
Giá hiện hành (current cost) còn được gọi là giá thay thế (replacement cost) là số
tiền hoặc tương đương tiền sẽ phải trả để có được tài sản tương tự vào thời điểm hiện tại.
1.1.5.4 Kế toán giá đầu ra (Exit-price accounting)
Năm 1936, Mac Neal cho rằng kế toán theo giá gốc không thích hợp trong vai trò
cung cấp thông tin hữu ích cho quyết định của nhà đầu tư vì không biết được giá trị hiện
tại của tài sản công ty mà nhà đầu tư nắm giữ cổ phần, không so sánh giữa các báo cáo tài
chính của các công ty khác nhau vì tài sản được ghi nhận dựa trên giá mua vào trong quá
khứ ở những thời kỳ khác nhau. Vì vậy, giá đầu ra là một trong những giải pháp khắc
phục những hạn chế đó. Kế toán giá đầu ra dựa trên cơ sở tiếp cận thị trường - cung cấp
thông tin cho nhà đầu tư.
Đóng góp của Sterling (1970 và 1979) cho thấy, ưu điểm nhất của giá đầu ra là
phù hợp cho tất cả các đối tượng, có khả năng cộng hợp vì nó cho phép xác định tài sản

13

trên cùng mặt bằng giá, lợi nhuận phản ánh doanh nghiệp có tăng sức mua với doanh
nghiệp khác không. Thế nhưng, vấn đề mà nhiều nhà kế toán lo ngại đó là việc xác định
dựa trên giá bán trên thị trường khó xác định một cách khách quan.
Trong bối cảnh đó, giá trị hợp lý sẽ được bàn đến như một hướng đi mới của đo
lường trong kế toán. Và cũng chính kế toán theo giá đầu ra là tiền thân của kế toán theo
giá trị hợp lý (GTHL).
1.2 Đo lường theo giá trị hợp lý
1.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của đo lường theo giá trị hợp lý
Sự hình thành và phát triển của đo lường theo giá trị hợp lý chia thành bốn giai
đoạn chính:
1.2.1.1 Giai đoạn từ 1850 đến 1970: Thời kỳ giá thị trường tự phát
Thực ra thì giá trị hợp lý mà tên gọi cũ của nó là giá thị trường. Là niềm mơ ước
của các nhà kế toán do theo lý thuyết kế toán thì giá thị trường là giá tốt nhất để xác định
giá vì thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu. Chính vì vậy, giá thị trường ra đời rất
sớm. Tuy nhiên, nó bị ngăn chặn lại bởi cuộc đại khủng hoảng tại Mỹ, sự sụp đổ của thị
trường chứng khoán năm 1929-1930. Thay vào đó là sự bùng nổ giá gốc bởi vì trong thời
kỳ hỗn loạn đó khi mà các doanh nghiệp tự tạo ra giá thị trường của mình thì không có
một thước đo nào hợp lý cả. Nghiễm nhiên, giá gốc giữ vai trò thống trị trong kế toán tại
Mỹ sau đại khủng hoảng. Từ đó, các quốc gia khác trên thế giới áp dụng theo và giá gốc
trở nên thống trị.
Lúc này, giá thị trường chỉ còn được nhắc đến trong các nghiên cứu dưới các hình
thức giá hiện hành, giá trị thuần có thể thực hiện, giá đầu ra…
1.2.1.2 Giai đoạn từ 1970 đến 1990: Thời kỳ bắt đầu hình thành giá trị hợp lý
Vào những năm thập niên 70, nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng
của lạm phát do chiến tranh dầu mỏ. Lạm phát khiến giá thị trường được quan tâm và các
chuẩn mực liên quan được ban hành tại Mỹ. Trong thời kỳ này thì giá thị trường mới bắt

14

đầu quan tâm. Tuy nhiên đến cuộc khủng hoảng về vay và tiết kiệm năm 1980 thì giá thị
trường mới được áp dụng vào một số khoản đầu tư chứng khoán tại Mỹ.
1.2.1.3 Giai đoạn từ 1990 đến 2005: Thời kỳ phát triển của kế toán giá trị hợp lý
Trong thời kỳ này IASC/IASB tiếp tục đẩy mạnh việc sử dụng giá trị hợp lý trong
các chuẩn mực báo báo tài chính quốc tế (IFRS) như IAS 39, IAS 40, IFRS 3, IFRS 9...
Sự kiện đáng chú ý trong giai đoạn này là năm 2003, Hội đồng chuẩn mực kế toán
tài chính Mỹ (FASB – Financial Accounting Standards Board) đã thành lập nhóm chuyên
nghiên cứu về giá trị hợp lý. Đến năm 2004 phát hành dự thảo. Tuy nhiên chuẩn mực này
chỉ chú trọng cách xác định hơn là phạm vi áp dụng giá trị hợp lý.
1.2.1.4 Giai đoạn từ 2005 đến nay: Thời kỳ ra đời chuẩn mực về giá trị hợp lý
Bắt đầu tháng 9/2005, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố “Văn
bản thảo luận về các phương pháp đo lường có sử dụng giá trị hợp lý”.
Vào tháng 5/2009, IASB tiếp tục công bố “Dự thảo chuẩn mực báo cáo tài chính
quốc tế về đo lường”. Trong đó, định nghĩa về giá trị hợp lý trong dự thảo đưa ra tương
tự với định nghĩa giá trị hợp lý được đưa ra trong báo cáo số 157 (FAS 157) “Đo lường
giá trị hợp lý” của Hội đồng kế toán tài chính Mỹ-FASB ban hành năm 2006.
Đến tháng 5/2011, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế về “Đo lường giá trị hợp
lý” (IFRS 13 – Fair value Measurement) chính thức ban hành. Và bắt đầu có hiệu lực vào
ngày 01/01/2013.
Như vậy, IFRS 13 ra đời trong dự án hội tụ giữa IASB và FASB. IASB ban hành
IFRS 13 và FASB điều chỉnh lại FAS 157 nay là chủ đề 820. Về cơ bản, IFRS 13 và FAS
157 không có sự khác biệt đáng kể nào vì IFRS 13 ra đời từ sự thống nhất lẫn nhau giữa
IASB và FASB về việc áp dụng giá trị hợp lý.
1.2.2 Đo lường theo giá trị hợp lý trên cơ sở chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
IFRS 13

15

1.2.2.1 Định nghĩa
Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế “Đo lường giá trị hợp lý” (IFRS 13),
đoạn 9 có đưa ra định nghĩa giá trị hợp lý như sau “…Giá có thể nhận được khi bán một
tài sản, hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao
dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường.” (The price that
would be received to sell an asset or paid to transfer a liability in an orderly transaction
between market participants at the measurement date).
Giá có thể nhận được: IFRS 13 khẳng định dựa trên quan điểm giá đầu ra, giá trị
hợp lý được xác định theo giá bán, không phải theo giá mua tức là lấy giá đầu ra
làm chuẩn.
Giao dịch bình thường: giao dịch không có sự bắt buộc, cưỡng ép buộc phải bán.
Các bên tham gia thị trường: giá được định bởi các bên mua bán chứ không phải
giá được định bởi doanh nghiệp báo cáo.
1.2.2.2 Quy trình đo lường theo giá trị hợp lý
Một quy trình xác định giá trị hợp lý được quy định rất chặt chẽ. Trong đó, phải
xác định được: đối tượng đo lường, thị trường giao dịch, xác định các bên tham gia thị
trường, phân tích dữ liệu đầu vào và cuối cùng là lựa chọn phương pháp đo lường.
Đối tượng đo lường:
Đầu tiên là loại tài sản nào được đo lường. Mỗi một loại tài sản có thể khác nhau
về vấn đề xác định giá trị hợp lý. Chính vì vậy, cần phải xem xét các đặc điểm của loại tài
sản được đo lường như tình trạng, địa điểm của chúng.
Thị trường giao dịch:
Thị trường để xác định giá trị hợp lý phải là thị trường chính của giao dịch chứ
không phải thị trường nào chúng ta cũng lấy được vì giá trên thị trường chính giá đó mới
là giá thực sự của thị trường và dùng để lấy tham chiếu. Trường hợp không có thị trường
chính thì đó phải là thị trường có giá tốt nhất. Đồng thời, doanh nghiệp phải có thể tiếp

16

cận thị trường chính. Nếu doanh nghiệp không thể tiếp cận được thị trường chính thì
doanh nghiệp phải có thể tiếp cận thị trường có giá tốt nhất trong tất cả các thị trường.
Các bên tham gia thị trường:
Không nhất thiết là doanh nghiệp cụ thể nào mà phải dựa trên 4 yêu cầu sau: (1)
Không phải là các bên liên quan, (2) Có đầy đủ hiểu biết và thông tin về đối tượng đo
lường, (3) Khả năng tham gia giao dịch, (4) Sẵn sàng tham gia vào giao dịch. Khả năng
tham gia giao dịch tức là phải có thể thực hiện được chứ không phải là cái giao dịch nêu
ra mà không thể thực hiện được.
Dữ liệu đầu vào: Thang áp dụng giá trị hợp lý (fair value hierarchy)
Dữ liệu đầu vào được phân ra thành ba cấp độ:
Cấp độ 1 (Level 1)
Dữ liệu đầu vào có thể quan sát được phản ánh giá tham chiếu mà không cần bất
kỳ điều chỉnh nào của tài sản trên thị trường hoạt động mà doanh nghiệp báo cáo có thể
tiếp cận vào thời điểm đo lường. Tức là các dữ liệu tham chiếu là giá niêm yết (chưa điều
chỉnh) của tài sản trên thị trường hoạt động. Giá được trích dẫn trong một thị trường hoạt
động cung cấp bằng chứng đáng tin cậy nhất để xác định giá trị hợp lý và được sử dụng
mà không cần điều chỉnh để đo lường giá trị hợp lý.
Cấp độ 1 đầu vào sẽ có sẵn cho nhiều tài sản tài chính, một số trong đó có thể
được trao đổi trong nhiều thị trường đang hoạt động (ví dụ như trên các sàn giao dịch
khác nhau). Vì vậy, sự nhấn mạnh trong cấp độ 1 là phải thỏa mãn được cả hai điều kiện
sau đây:
-

Thị trường dùng để xác định giá trị hợp lý phải là thị trường chính, hoặc trong sự
vắng mặt của chính thị trường thì đó là thị trường thuận lợi nhất hay còn được gọi
là thị trường có giá tốt nhất.

-

Đồng thời, doanh nghiệp phải có thể tiếp cận thị trường chính hay thị trường có
giá tốt nhất tại thời điểm đo lường.

Cấp độ 1 này là cấp độ tốt nhất, đáng tin cậy nhất.

17

Cấp độ 2 (Level 2)
Dữ liệu đầu vào có thể quan sát được nhưng không phải là giá tham chiếu của tài
sản ở cấp độ 1. Tức là chúng ta có điều chỉnh, giá có điều chỉnh một ít. Dữ liệu tham
chiếu cấp độ 2 bao gồm:
-

Trích dẫn giá đối với tài sản tương tự tại các thị trường đang hoạt động.

-

Trích dẫn giá trùng hoặc tương tự đối với tài sản tại các thị trường mà không hoạt
động.

-

Ngoài giá niêm yết quan sát thì có thể thu thập những dữ liệu sau, ví dụ:
+ Tỷ lệ lãi suất và đường cong lãi suất
+ Biến động lợi nhuận, tính thanh toán
+ Mức độ rủi ro: rủi ro tín dụng

-

Dữ liệu tham chiếu phần lớn có nguồn gốc hay được chứng thực từ các dữ liệu thị
trường có thể thu thập.

Cấp độ 2 là mức tốt thứ 2, có độ tin cậy sau liền kề cấp độ 1.
Cấp độ 3 (Level 3)
Dữ liệu đầu vào không thể qua sát được nghĩa là mình phải tính ra do những dữ
liệu này không thể thu thập trên thị trường.
Đầu vào không quan sát được sử dụng để đo lường giá trị hợp lý trong phạm vi
đầu vào tương ứng được quan sát không có sẵn, do đó cho phép tình huống trong đó có
rất ít, nếu có, thị trường hoạt động cho tài sản tại thời điểm đo lường. Vì vậy, các dữ liệu
đầu vào phải phản ánh giả định rằng những người tham gia thị trường sẽ sử dụng khi đo
lường tài sản, bao gồm cả các giả định về rủi ro.
Giả định về rủi ro bao gồm rủi ro vốn có trong một kỹ thuật xác định giá trị cụ thể
được sử dụng để đo lường giá trị hợp lý (chẳng hạn như một mô hình giá cả) và rủi ro
vốn có trong các yếu tố đầu vào kỹ thuật đo lường.
Doanh nghiệp có trách nhiệm phát triển các yếu tố đầu vào không quan sát được
bằng cách sử dụng thông tin tốt nhất có sẵn trong các trường hợp.
Cấp độ này có độ tin cậy yếu.

18

Phương pháp đo lường:
Mục tiêu của việc sử dụng phương pháp đo lường là để xác định giá có thể nhận
được khi bán một tài sản, hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải
trả trong một giao dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại thời điểm đo
trong điều kiện thị trường hiện tại.
Hiện nay, giá trị hợp lý sẽ được áp dụng tùy theo trường hợp theo ba phương pháp
đó là: phương pháp thị trường, phương pháp thu nhập và phương pháp chi phí. Các khía
cạnh chính của những phương pháp trên được tóm tắt trong đoạn dưới đây. Một doanh
nghiệp được sử dụng kỹ thuật đánh giá phù hợp với một hoặc nhiều của những phương
pháp tiếp cận để đo lường giá trị hợp lý.
-

Phương pháp thị trường (Market approach):
Phương pháp thị trường sử dụng giá và các thông tin khác có liên quan được tạo ra

bởi các giao dịch trên thị trường liên quan đến giống hệt nhau hoặc so sánh (tức là tương
tự) tài sản hoặc một nhóm các tài sản.
Đây được xem là phương pháp dễ hiểu nhất. Chúng ta chỉ cần sử dụng thông tin từ
thị trường và các giao dịch có thể so sánh được để chúng ta áp dụng. Tài sản được giao
dịch trên thị trường thì giá trị hợp lý sẽ được đo lường bằng cách lấy giá niêm yết của
một đơn vị tài sản nhân với số lượng mà doanh nghiệp nắm giữ.
Kỹ thuật đo lường phù hợp với phương pháp thị trường bao gồm ma trận giá cả.
Ma trận giá cả là một kỹ thuật toán học được sử dụng chủ yếu để đánh giá một số loại
công cụ tài chính, chẳng hạn như chứng khoán nợ, mà không dựa hoàn toàn vào giá niêm
yết cụ thể chứng khoán, mà là dựa vào mối quan hệ của các chứng khoán khác.
-

Phương pháp thu nhập (Income approach):
Được tính trên cơ sở chiết khấu các dòng tiền thuần trong tương lai. Tức là chúng

ta nếu sử dụng tài sản đó mang vào sử dụng thì nó mang lại dòng tiền thuần trong tương
lai là bao nhiêu? Và chúng ta quy dòng tiền thuần trong tương lai đó về giá trị hiện tại thì
chúng ta tính được giá trị hợp lý của nó.