Tải bản đầy đủ
TỦ SÁCH TINH HOA TRI THỨC THẾ GIỚI. CẤU TRÚC CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC

TỦ SÁCH TINH HOA TRI THỨC THẾ GIỚI. CẤU TRÚC CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC

Tải bản đầy đủ

THOMAS S. KUHN
CẤU TRÚC CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG
KHOA HỌC
THE STRUCTURE OF SCIENTIFIC REVOLUTIONS
Người dịch: Nguyễn Quang A
LỜI GIỚI THIỆU

Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ mười hai* của tủ sách SOS2,
cuốn Cấu trúc của các cuộc Cách mạng Khoa học của Thomas
S. Kuhn. Cuốn sách này đã trở thành kinh điển từ lần xuất bản
đầu tiên năm 1962. Bản dịch dựa vào bản xuất bản lần thứ ba
năm 1996. Đây là một cuốn sách về triết học khoa học, phân
tích cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học, cấu trúc các
cộng đồng khoa học, sự phát triển của khoa học. Ông phân sự
phát triển của các khoa học thành các giai đoạn tương đối “ổn
định” mà ông gọi là khoa học thông thường, bị ngắt quãng bởi
các thời kì được gọi là cách mạng khoa học. Trong khoa học
thông thường về cơ bản không có cạnh tranh, các nhà khoa học
tiến hành công việc khoa học như việc giải các câu đố. Khi các
dị thường (sự không khớp giữa các tiên đoán và quan sát) xuất
hiện, các nhà khoa học thường tìm cách giải quyết nó, và thường

2

thành công. Tuy vậy có các dị thường có thể gây ra khủng
hoảng. Khoa học khác thường nổi lên trong các giai đoạn như
vậy. Nảy sinh nhiều trường phái khác nhau. Vì có tự do tư duy
và cạnh tranh, thường chỉ có một trường phái duy nhất sống sót,
và khoa học lại bước vào pha khoa học thông thường mới. Tuy
ông lấy các thí dụ chủ yếu từ lĩnh vực vật lí học, cuốn sách đề
cập đến khoa học nói chung, và chủ đề của nó càng có ý nghĩa
đối với các khoa học xã hội, các khoa học “chưa” thật “trưởng
thành”.
Khái niệm paradigm do ông đưa ra được thảo luận chi tiết trong
cuốn sách này. Theo từ điển các từ Việt Nam tương ứng với
paradigm là mẫu, mô hình. Do chưa có thuật ngữ Việt thống
nhất tương ứng, chúng tôi tạm dùng từ “khung mẫu” để chỉ khái
niệm này. Khung mẫu là cái mà một cộng đồng khoa học chia
sẻ, là hình trạng (constellation) của các cam kết của một cộng
đồng khoa học, là mẫu dùng chung của một cộng đồng khoa
học. Có lẽ nên dùng nguyên paradigm thay vì “dịch” ra tiếng
Việt. Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc thường chỉ phiên âm
các khái niệm mới, không đặt vấn đề “dịch” khái niệm ra tiếng
mẹ đẻ vì việc dịch như vậy là không thể làm được và không có ý
nghĩa [ma trận xuất phát từ matrix phiên âm qua tiếng Trung
Quốc là một ví dụ khá quen thuộc]. Trong bản dịch này khung
mẫu không phải là từ “được dịch” của paradigm, nó là một từ

3

được dùng để chỉ khái niệm paradigm. Bạn đọc đừng bận tâm
paradign, khung mẫu, matrix, ma trận “có nghĩa” là gì, chúng
chỉ là những cái tên, các nhãn của các khái niệm. Phải tiếp cận
với các khái niệm trước và sau đó dùng các tên hay các nhãn
như vậy để gọi chúng. Ta sẽ bắt gặp thêm các khái niệm như
cộng đồng khoa học, cách mạng khoa học, khoa học thông
thường, khoa học khác thường, v.v. trong cuốn sách này. Tất
nhiên trong một cộng đồng ngôn ngữ việc thống nhất tên gọi của
các khái niệm là hết sức quan trọng.
Cuốn sách sẽ bổ ích cho các triết gia, các nhà sử học, các nhà
khoa học (tự nhiên và xã hội), các sinh viên, và tất cả những ai
quan tâm đến khoa học, đến sáng tạo.
Người dịch đã cố hết sức để làm cho bản dịch được chính xác và
dễ đọc, song do hiểu biết có hạn nên khó thể tránh khỏi sai sót.
Phần chỉ mục nội dung, ở mỗi mục chính, có kèm theo thuật ngữ
tiếng Anh để bạn đọc tiện tham khảo.
Mọi chú thích của tác giả được đánh bằng số. Tất cả các chú
thích đánh dấu sao (*) ở cuối trang là của người dịch. Trong văn
bản đôi khi người dịch có đưa thêm từ hay cụm từ để cho câu
được rõ nghĩa, phần đó được đặt trong dấu [như thế này]. Bản
dịch chắc còn nhiều thiếu sót mong bạn đọc thông cảm, lượng
thứ, và chỉ bảo; xin liên hệ theo địa chỉ Tạp chí Tin học và Đời
sống, 54 Hoàng Ngọc Phách Hà Nội [25/B7 Nam Thành Công],

4

hoặc qua điện thư thds@hn.vnn.vn hay nqa@netnam.vn

06-2005
Nguyễn Quang A

* Các quyển trước gồm:
1. J. Kornai: Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, Hội Tin
học Việt Nam 2001, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin (NXB
VHTT) 2002.
2. J. Kornai: Hệ thống Xã hội chủ nghĩa, NXB Văn hoá Thông
tin 2002
3. J. Kornai- K. Eggleston: Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, NXB
VHTT 2002
4. G. Soros: Giả kim thuật tài chính, sắp xuất bản
5. H. de Soto: Sự bí ẩn của tư bản, sắp xuất bản
6. J. E. Stiglitz: Chủ nghĩa xã hội đi về đâu? sắp xuất bản
7. F.A. Hayek: Con đường dẫn tới chế độ nông nô, sắp xuất bản
8. G. Soros: Xã hội Mở, sắp xuất bản
9. K. Popper: Sự Khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử, sắp xuất bản.
10. K. Popper: Xã hội mở và những kẻ thù của nó, I, Plato
11. K. Popper: Xã hội mở và những kẻ thù của nó, II, Hegel và

5

Marx

6

THOMAS S. KUHN
CẤU TRÚC CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG
KHOA HỌC
THE STRUCTURE OF SCIENTIFIC REVOLUTIONS
Người dịch: Nguyễn Quang A
Lời nói đầu

Tiểu luận này là báo cáo được xuất bản đầy đủ đầu tiên về một
công trình khởi đầu được hình dung ra gần mười lăm năm trước.
Khi đó tôi là một nghiên cứu sinh về vật lí lí thuyết sắp hoàn
thành luận văn của mình. Một sự dính líu may mắn với một cua
thử nghiệm dạy khoa học vật lí cho người không nghiên cứu
khoa học đã lần đầu tiên đưa tôi đến với lịch sử khoa học. Tôi
hoàn toàn ngạc nhiên, rằng việc tiếp xúc với lí thuyết và thực
hành khoa học lỗi thời đã làm xói mòn triệt để một số quan niệm
cơ bản của tôi về bản chất của khoa học và các lí do cho thành
công đặc biệt của nó.
Đó là các quan niệm mà tôi đã rút ra một phần từ bản thân quá
trình đào tạo khoa học và một phần từ một chí thú có từ lâu với
triết học khoa học. Chẳng hiểu sao, dù tính hữu dụng sư phạm
của chúng và vẻ hiển nhiên trừu tượng của chúng có thế nào, các

7

quan niệm này không hề hợp với công việc mà nghiên cứu lịch
sử phơi bày. Thế mà chúng đã và vẫn là cơ bản cho nhiều thảo
luận về khoa học, và vì thế có vẻ đáng theo đuổi kĩ lưỡng sự thất
bại của chúng về vẻ thật. Kết quả đã là một sự dịch chuyển
quyết liệt trong các dự định sự nghiệp của tôi, một sự dịch
chuyển từ vật lí học sang lịch sử khoa học và sau đó, dần dần, từ
các vấn đề lịch sử tương đối dễ hiểu quay trở lại các lo ngại triết
học ban đầu đã dẫn tôi đến với lịch sử. Trừ một vài bài báo, tiểu
luận này là tác phẩm đầu tiên trong các công trình đã xuất bản
của tôi trong đó các mối lo ngại ban đầu này chi phối. Một phần
nào đó nó là một nỗ lực để giải thích cho bản thân tôi và các bạn
bè trước hết tôi đã bị kéo từ khoa học sang lịch sử khoa học như
thế nào.
Cơ hội đầu tiên của tôi để theo đuổi sâu vài trong các ý tưởng
nêu ra dưới đây là ba năm với tư cách một Nghiên cứu sinh Trẻ
của Hội các Nghiên cứu sinh của Đại học Hardvard. Không có
giai đoạn tự do đó thì sự chuyển đổi sang một lĩnh vực nghiên
cứu mới chắc đã khó hơn nhiều và có thể đã không đạt được.
Một phần thời gian trong các năm đó tôi đã dành cho lịch sử
khoa học đích thực. Đặc biệt tôi đã tiếp tục nghiên cứu các tác
phẩm của Alexandre Koyré và đầu tiên làm quen với các tác
phẩm của Emile Meyerson, Hélène Metzger, và Anneliese
Maiser.1 Sáng tỏ hơn hầu hết các học giả khác gần đây, nhóm

8

người này đã cho thấy cái gì giống như suy nghĩ khoa học trong
một thời kì khi các chuẩn mực khoa học rất khác các chuẩn mực
ngày nay. Mặc dù tôi ngày càng nghi ngờ một vài trong số các
diễn giải lịch sử cá biệt của họ, các công trình của họ, cùng với
Great Chain of Being của
A. O. Lovejoy, đã chỉ đứng sau các nguồn tư liệu gốc trong tạo
hình quan niệm của tôi về lịch sử các ý tưởng khoa học có thể là
gì.
Phần lớn thời gian của tôi trong các năm ấy, tuy vậy, được dùng
để khám phá các lĩnh vực không có quan hệ rõ ràng với lịch sử
khoa học nhưng trong đó nghiên cứu ngày nay phơi bày ra các
vấn đề giống các vấn đề mà lịch sử đã làm cho tôi chú ý. Một
chú thích bắt gặp tình cờ đã dẫn tôi đến các thí nghiệm mà Jean
Piaget đã làm sáng tỏ cả các cuộc đời khác nhau của đứa trẻ
đang lớn và quá trình chuyển tiếp từ một [cuộc đời] sang [cuộc
đời] kế tiếp.2 Một trong các đồng nghiệp của tôi bảo tôi đọc các
bài báo về tâm lí học tri giác, đặc biệt các nhà tâm lí học phái
Gestalt; đồng nghiệp khác giới thiệu cho tôi những suy ngẫm
của B. L. Whorf về ảnh hưởng của ngôn ngữ lên thế giới quan;
và W. V. O. Quine mở ra cho tôi các câu đố triết học về sự phân
biệt giải tích-tổng hợp (analytic-synthetic).3 Đó là loại khám
phá có tính ngẫu nhiên mà Hội các Nghiên cứu sinh cho phép, và
chỉ qua đó mà tôi đã có thể bắt gặp cuốn chuyên khảo hầu như

9

không được biết đến của Ludwik Fleck, Entstehung und
Entwicklung einer wissenschaftlichen Tatsache (Basel, 1935),
một tiểu luận thấy trước nhiều ý tưởng riêng của tôi. Cùng với
một nhận xét của một Nghiên cứu sinh Trẻ khác, Francis X.
Sutton, công trình của Fleck đã làm cho tôi thấy rõ là các ý
tưởng đó có thể cần được đặt trong xã hội học của cộng đồng
khoa học. Tuy dưới đây bạn đọc sẽ thấy ít dẫn chiếu đến các
công trình hay các đối thoại này, tôi mang ơn chúng theo nhiều
cách hơn là bây giờ tôi có thể tái dựng lại hay đánh giá.
Trong năm cuối với tư cách một Nghiên cứu sinh Trẻ, một lời
mời giảng cho Viện Lowell ở Boston đã tạo cơ hội đầu tiên cho
tôi để thử quan niệm vẫn đang phát triển của tôi về khoa học.
Kết quả là một loạt gồm tám bài giảng công khai, được trình bày
tháng Ba, 1951, về “Truy tìm Khoa học Vật lí – The Quest for
Physical Science”. Trong năm tiếp theo tôi bắt đầu dạy lịch sử
khoa học đích thực, và gần một thập niên các vấn đề giảng dạy
trong một lĩnh vực tôi chưa bao giờ nghiên cứu một cách có hệ
thống đã không để cho tôi có mấy thời gian cho trình bày tường
minh các ý tưởng đầu tiên đã kéo tôi vào lĩnh vực đó. Tuy vậy,
thật may mắn các ý tưởng đó đã tạo một nguồn của định hướng
ngầm định và của cấu trúc-vấn đề nào đó cho phần lớn việc
giảng dạy bậc cao hơn của tôi. Vì thế tôi có các sinh viên để
cảm ơn vì các bài học có giá trị cả về khả năng đứng vững của

10

các quan điểm của tôi và về những kĩ thuật thích hợp cho việc
truyền đạt chúng một cách hiệu quả. Cùng các vấn đề và định
hướng mang lại tính thống nhất cho hầu hết các nghiên cứu lịch
sử chiếm đa số, và rõ ràng khá đa dạng, mà tôi đã công bố kể từ
khi kết thúc học bổng nghiên cứu sinh của tôi. Nhiều trong số
chúng đề cập đến vai trò trọn vẹn do siêu hình học này hay kia
đã đóng trong nghiên cứu khoa học sáng tạo. Những nghiên cứu
khác khảo sát cách trong đó các cơ sở thí nghiệm của một lí
thuyết mới được tích tụ và được những người cam kết với một lí
thuyết cũ không tương thích tiêu hoá ra sao. Trong quá trình
chúng mô tả loại phát triển mà dưới đây tôi sẽ gọi là “sự nổi lênemergence” của một lí thuyết hay phát minh mới. Ngoài ra có
các ràng buộc khác như vậy.
Chặng cuối cùng trong sự phát triển của tiểu luận này bắt đầu
với một lời mời làm việc cho năm 1958-1959 ở Trung tâm
Nghiên cứu Cao cấp về các Khoa học Hành vi – Center for
Advanced Studies in the Behaviorial Sciences. Lại một lần nữa
tôi có khả năng chú tâm hoàn toàn vào các vấn đề được thảo luận
dưới đây. Thậm chí quan trọng hơn, sống một năm trong một
cộng đồng chủ yếu gồm các nhà khoa học xã hội, tôi đã đối mặt
với các vấn đề không được dự kiến trước về những khác biệt
giữa các cộng đồng như vậy với cộng đồng các nhà khoa học tự
nhiên mà trong đó tôi đã được đào tạo. Đặc biệt, tôi bị ấn tượng

11

bởi số lượng và mức độ của các bất đồng không úp mở giữa
những nhà khoa học xã hội về bản tính của các vấn đề và các
phương pháp khoa học chính đáng. Cả lịch sử lẫn sự quen biết
làm cho tôi nghi ngờ rằng những người hành nghề khoa học tự
nhiên có những câu trả lời vững chắc hơn hay vĩnh cửu hơn cho
các câu hỏi như vậy so với các đồng nghiệp khoa học xã hội của
họ. Thế nhưng, không biết làm sao, sự thực hành thiên văn học,
vật lí học, hoá học, hay sinh học thường không gây ra các tranh
cãi về những cái cơ bản mà ngày nay thường có vẻ như căn
bệnh địa phương giữa, thí dụ, các nhà tâm lí hay các nhà xã hội
học. Việc thử khám phá ra nguồn của sự khác biệt đó đã khiến
tôi nhận ra vai trò trong nghiên cứu khoa học của cái từ đó tôi đã
gọi là các “khung mẫu- paradigm”*. Những cái này tôi coi là
các thành tựu khoa học đã được công nhận một cách phổ quát
mà trong một thời gian cung cấp các vấn đề mẫu và các lời giải
cho một cộng đồng của những người thực hành. Một khi cái
miếng hình ghép của tôi khớp vào chỗ trong câu đố ghép hình,
thì một bản thảo của tiểu luận này hiện ra nhanh chóng.
Câu chuyện tiếp theo của bản thảo đó không cần được kể ở đây,
nhưng phải nói vài lời về hình thức mà nó vẫn giữ được qua các
lần soát xét lại. Cho đến khi một phiên bản đầu tiên được hoàn
thành và phần lớn được soát xét lại, tôi đã dự kiến rằng bản thảo
sẽ xuất hiện chỉ riêng như một tập trong Bách khoa thư Khoa

12