Tải bản đầy đủ
Những hành vi giao tiếp đặc biệt:

Những hành vi giao tiếp đặc biệt:

Tải bản đầy đủ

Để có thể vượt qua tình thế như vậy và có thể lắng nghe có hiệu quả cần tự điều chỉnh để tự thích
ứng với tình hình, và hình thành được thái độ sau:
Thái độ tự thấu cảm: Ta tự đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của người nói, thử đặt mình vào tình
cảnh như vậy, từ đó mà tạo ra sự thấu hiểu thông điệp cả từ hai phía: Phía công khai và những gì tiềm
ẩn bên trong các thông điệp đó. Trong phần lớn trường hợp người fruyen thông tin thường có mong
muốn ta thấu hiểu họ một cách đầy đủ cả hai khía cạnh ấy, nhất là ở phía “ý tại ngôn ngoại”, tiềm ẩn
bên ừong.
Sự tập trung, chú ý vào nội dung thông tin với thái độ khách quan là không thể thiếu. Cần hết sức
chăm chú nắm bắt thông tin, sẵn sàng phản hồi bằng ngôn ngữ, bằng tín hiệu, bằng biểu cảm (thái độ) ví
dụ như: Gật gù tỏ vẻ hiểu, hưởng ứng, mỉm cười tán đồng. Tất nhiên để bộc lộ thái độ khách quan như
vậy, ta phải hết sức tự kiềm chế, kiên nhẫn với thái độ tự tin để duy trì sự giao lưu, tiếp xúc diễn ra một
cách thuận lợi. Đôi lúc có thể kiểm ừa ngược lại hoặc để tâm xem lại những điều mình đã nắm được, ta
có thể xen kẽ bằng những câu nhắc lại những gợi ý khéo như: “Theo anh nên hiểu vấn đề ấy như thế
nào?” hoặc gợi mở thêm sự giao lưu được tiếp tục kiểu như “Hình như anh cũng cảm thấy khó
x ử . . t h ậ m chí có thể tỏ thái độ trung lập với những gợi ý vô thưởng vô phạt như “Tôi hiểu anh ừong
trường hợp này...”. Tác dụng của những câu đưa đẩy ấy sẽ duy trì được sự giao lưu, tiếp xúc và nếu có
dụng ý ta sẽ gián tiếp hiểu được thái độ đích thực của đối tượng giao tiếp.
I.3.I.2.

Những trở ngại trong việc lắng nghe
Có nhiều ưở ngại khiến cho chất lượng lắng nghe người khác nói không phải lúc nào cũng như

nhau, do nhiều nguyên nhân rất dễ sa vào tình ữạng chất lượng kém với các mức độ khác nhau như: Do
không tập trung chú ý nên chẳng nắm được nội dung, nghe lõm bõm, chỉ thông hiểu một phần, nghe
nhưng nắm thông tin không chính xác, nghe rồi nhưng không có chủ định và quên mất thông tin,....
Trước hết phải nói đến ừở ngại về mặt tâm lý - Ví dụ như tốc độ suy nghĩ, chúng ta có thể nghe
với tốc độ nhanh nhưng người nói lại rề rà, quá chậm. Do vậy có những khoảng ữống, khiến ta dễ liên
tưởng, dễ suy nghĩ lan man về các vấn đề khác. Hơn thế nữa, ừong trường hợp tâm trạng chúng ta xao
động, ta mải chú ý vấn đề khác, nếu người nói lại không “tâm lý” dễ dẫn ta đến ữạng thái suy nghĩ lan
man. Có thể xem ữở ngại tâm lý là ừở ngại quan ữọng nhất, làm giảm hiệu quả của sự lắng nghe.
Cùng với tốc độ suy nghĩ, việc phân tán chú ý còn do nội dung thông tin quá khó, ta không thể
hiểu rõ và cũng không thể không nắm bắt được thực chất của thông tin, cảm thấy căng thẳng do vậy
không tập trung được chú ý.
Cũng có thể do thiếu kiến thức, đôi khi trong trao đổi, một bên cứ nói và một bên cứ lảng đi,
không chịu “nghe”. Như vậy là ừong giao tiếp, sự hiểu biết về đối tượng: Cá tính, trình độ học vấn, kinh
nghiệm xử thế,.. .thì chắc chắn sẽ gặp ít ưở ngại hơn.

1
1

về mặt cá tính, một số người có tính thiếu kiên nhẫn ừong giao tiếp - Thái độ này sẽ ảnh hưởng
tiêu cực đến quá trình giao lưu, tiếp xúc. Với tâm ữạng như vậy, chúng ta nói vào tai này thì thông tin sẽ
trượt ra tai khác, vô hiệu quả.

Thực tế chứng tỏ rằng đôi khi thái độ thờ ơ, tiêu cực ừong giao tiếp nảy sinh ra do định kiến,
thành kiến và nhân cách của ai đó; thái độ gây nên ữạng thái ức chế, cản ữở sự ữao đổi thông tin, nghĩa
là không chịu tiếp nhận, ừao đổi các thông tin.
1.3.2. Kỹ năng đặt câu hỏi
Thu thập thông tin từ người khác là một kỹ năng khá quan ữọng ừong giao tiếp. Có nhiều thông
tin chúng ta cần được chứa đựng ừong não bộ của người khác. Có lúc chính họ tự nguyện, tự giác cho ta
tin tức, nhưng đa số trường hợp chúng ta phải khai thác nó bằng các câu hỏi khác nhau. Muốn khai thác
thông tin có hiệu quả chúng ta cần thực hiện nó một cách có bài bản.
Muốn khuyến khích việc cung cấp tin, bạn phải làm sao cho việc ấy ừở thành niềm vui thú đối
với người khác. Hãy sử dụng nghệ thuật lắng nghe để tạo hứng thú ở đối tượng cung cấp thông tin.
Khi muốn khai thác thông tin, bạn hãy bắt đầu bằng một câu hỏi dễ. Những câu hỏi dễ sẽ giúp
người khác có cơ hội ưả lời đúng một cách dễ dàng. Chúng làm cho đối tượng thoải mái, bớt căng thẳng
và tự tin hơn. Nói chung, trước hết cần phải làm nóng cuộc nói chuyện để khi người đối thoại thấy được
sức cuốn hút thì anh ta sẽ say sưa trút bầu tâm sự.
Sau khi đã làm cho người khác cảm thấy thoải mái, bạn cần biết đặt những câu hỏi để có được
những tin tức đầy đủ và chính xác. Có rất nhiều loại câu hỏi để bạn có thể sử dụng, tuỳ vào từng hoàn
cảnh và dụng ý sử dụng.
-

Câu hỏi hẹp:
Đó là những câu hỏi nhằm thu hẹp vấn đề để ừanh thủ những thông tin chính xác, ngắn gọn. Ví

dụ: “Ai thực hiện việc này?”, ‘Tên anh là gì?”. Những câu hỏi hẹp có ích khi bạn cần những dữ kiện rõ
ràng, thẳng thắn. Hầu hết các cuộc gặp gỡ đều có những câu hỏi hẹp ở một thời điểm nào đó.
-

Câu hỏi trực tiếp:
Tức là hỏi thẳng vào vấn đề mà mình cần tìm hiểu. Loại này có ưu điểm là thu thập thông tin

một cách nhanh chóng và thường tạo ra yếu tố bất ngờ ở đối tượng. Hỏi trực tiếp thường để lộ mục đích
tìm hiểu, làm cho đối tượng không được tự nhiên.
-

Câu hỏi gián tiếp:
Tức hỏi về một vấn đề này để suy ra vấn đề mình cần tìm hiểu. Loại câu hỏi này thường dùng để

khai thác những yếu tố tế nhị mà không thể hỏi trực tiếp.
-

Câu hỏi gợi mở:
Là loại câu hỏi mà không thể ữả lời có hoặc không được, chúng đòi hỏi phải có lời giải thích tại

sao. Nhờ câu hỏi này mà chúng ta bước vào một giai đoạn mới của cuộc đàm phán độc thoại chuyển
thành đối thoại. Loại câu hỏi này làm dễ dàng cho người đối thoại. Mục đích của loại câu hỏi này chủ
yếu là thu thập thông tin sâu hơn mà câu hỏi hẹp không làm được.
-

Câu hỏi để suy nghĩ:

1
2

Mục đích của câu hỏi này nhằm xây dựng bầu không khí thân thiện, hiểu biết lẫn nhau. Chúng
đặc biệt có lợi khi nhắc lại một phần các ý kiến đã phát biểu. Câu hỏi này sẽ tạo điều kiện cho đối tác
cải chính, bổ sung vấn đề đã được trình bày.
1.3.3. Kỹ năng thuyết phục
Để giải quyết tốt một công việc nào đó, chúng ta thường cần sự giúp đỡ, hợp tác của người khác.
Điều này đòi hỏi giữa chúng ta và họ phải có sự thống nhất về quan điểm, lập trường, về cách giải quyết
công việc. Tuy nhiên ừên thực tế, chúng ta thường gặp trường hợp, trong đó người khác không cùng
chung ý kiến, quan điểm với chúng ta. Trong trường hợp này, việc chứng ta có đạt được mục đích hay
không phụ thuộc vào khả năng thuyết phục của chứng ta. Thuyết phục chính là đưa ra tình tiết, sự kiện,
phân tích, giải thích làm cho người khác thấy đứng, thấy hay mà tin theo, mà làm theo.
1.3.3.1.

Những điểm cần chú ý khỉ thuyết phục

Thuyết phục người khác là một công việc không hề đơn giản, bởi một lẽ thường tình là bất kỳ ai,
khi đã có ý kiến về một vấn đề nào đó, cũng có niềm tin nhất định vào mình và không muốn tiếp thu ý
kiến của người khác. Hơn nữa không phải ai cũng biết cách thuyết phục người khác. Để thuyết phục có
hiệu quả chúng ta cần chú ý một số điểm sau đây:
Bầu không khí bình đẳng là điều kiện đầu tiên để có thể thành công ừong thuyết phục, bởi vì nó
làm cho người đối thoại cảm thấy thoải mái, được tôn ừọng, làm giảm sự đề phòng, phản kháng của họ.
Thông thường người đối thoại luôn muốn bảo vệ ý kiến của mình, không muốn tiếp thu ý kiến
của người khác. Muốn thuyết phục họ, trước hết phải tôn ữọng và lắng nghe họ. Đến một lúc nào đó sẽ
xuất hiện chỗ hở trong quan điểm của người đối thoại vì thiếu thông tin, vì cân nhắc chưa thấu đáo. Lúc
này họ sẽ cảm thấy thiếu tự tin và muốn nghe ý kiến. Đây chính là lúc để thuyết phục.
Khi trình bày ý kiến cần lưu ý: Lý lẽ đưa ra phải rõ ràng và có cơ sở; lòi nói phải ngắn gọn và có
ừọng tâm, không nên dài dòng ừàn lan, phải nhã nhặn, ôn tồn, lịch sự; ngôn ngữ và cách lập luận phải
phù hợp với trình độ nhận thức của người đối thoại; biết thừa nhận những điểm có lý ữong ý kiến của
người đối thoại; cần tác động đến cả nhận thức, tình cảm và ý chí của người đối thoại.
1.3.3.2.

Quy trình thuyết phục

Từ sự phân tích ừên, ta có thể đưa ra một quy trình thuyết phục bao gồm các bước cơ bản:
Trước hết hãy tạo một không khí bình đẳng, thân thiện gây thoải mái cho người đối thoại. Đây là
một bước quan trọng, ảnh hưởng khá nhiều đến kết quả thuyết phục.
Sau khi đã tạo được một không khí cởi mở nhất định, chứng ta cần tìm hiểu, lắng nghe để hiểu tâm lý
người đối thoại. Muốn thuyết phục ai đó về một vấn đề nào đó. Trước hết hãy tìm hiểu quan điểm cá
nhân của họ về vấn đề, những vướng mắc, bận tâm khiến họ lo ngại, từ chối. Chứng ta không thể đưa ra
1

cách giải cho một bài toán khi chưa biết đề bài. Hãy vận dụng hết khả năng lắng nghe ừong bước3 này.

Bất kỳ ai cũng đều mong muốn có được sự đồng cảm, chia sẻ của người khác với những ý kiến,
lo lắng của mình. Hãy chứng tỏ sự cảm thông với những vướng mắc đó, coi vướng mắc của người đối
thoại cũng chính là vướng mắc của người thuyết phục.
Và cuối cùng, khi đứng ưên quan điểm của người đối thoại đồng thòi ưên quan điểm của người
đưa ra được cách giải quyết những vướng mắc ấy, chúng ta cần dùng lý lẽ để giải tỏa lo ngại và bận tâm
của người đối thoại.
1.3.4. Kỹ năng thuyết trình
Trong cuộc sống, có những khi đối tượng chúng ta cần trình bày quan điểm, suy nghĩ về vấn đề
nào đó, không chỉ là một hay hai người, mà có thể là mười người, hai mươi người, một ừăm người, hay
hơn thế nữa. Đó chính là lúc chúng ta thực hiện một bài thuyết trình. Thuyết trình hay còn gọi là diễn
thuyết, là nói chuyện trước nhiều người về một vấn đề nào đó một cách có hệ thống.
I.3.4.I.

Các bước thuyết trình
Một bài thuyết trình thành công bao giờ cũng đi qua ba bước: Chuẩn bị thuyết trình, tiến hành

thuyết trình và kết thúc thuyết trình.
- Chuẩn bị thuyết trình
Bất kỳ một nhà diễn thuyết chuyên nghiệp nào cũng có lúc lúng túng, e ngại, căng thẳng. Để có
thể đường hoàng, tự tin, chúng ta và cả những nhà diễn thuyết chuyên nghiệp cũng đều phải có sự chuẩn
bị chu đáo cho buổi nói chuyện của mình. Khi được mời thuyết trình về một vấn đề nào đó, chúng ta
cần cân nhắc hai vấn đề. Đó là: Chúng ta có am hiểu vấn đề, có đủ thông tin để trình bày hay không?
Con người và
cương vị của người nói có được người nghe chấp thuận hay không? Nói cách khác, tầm quan trọng của
vấn đề phải ngang tầm với người diễn thuyết, nếu không người nghe sẽ thiếu tin tưởng.
Bài nói chuyện phải được xây dựng xung quanh người nghe, lấy người nghe làm trung tâm. Cùng
một vấn đề nhưng nói cho những đối tượng khác nhau thì cách xây dựng bài nói cũng khác nhau. Chẳng
hạn, cùng một vấn đề thời sự nhưng nói cho sinh viên khác với nói cho giáo viên. Vì vậy, người thuyết
ừình cần tìm hiểu người nghe là ai, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, tín ngưỡng.. .để chuẩn bị bài nói
chuyện cho phù hợp.
Bài diễn thuyết cần được chuẩn bị một cách chu đáo. Người diễn thuyết có thể thảo sẵn nội dung
diễn thuyết ra giấy hoặc chí ít cũng phải lập một đề cương chi tiết các ý cần phải trình bày và những dẫn
chứng, những số liệu để minh hoạ. Không nên quá tin tưởng vào trí nhớ. Nếu lần đầu diễn thuyết thì cần
tập dượt trước . Sự chuẩn bị tốt luôn làm người diễn thuyết tự tin ừong quá trình nói chuyện.
-

Tiến hành thuyết trình
1

Khi tiến hành thuyết trình, điều quan trọng nhất của người diễn thuyết là kiểm soát được
nội
4
dung mà mình đang trình bày. Tránh tình ừạng, vì một vài câu hỏi hay một vài yếu tố khách quan dẫn
đến quên mất trình tự hay quên mất nội dung định trình bày. Để có được một bài thuyết trình hay, phụ

thuộc vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt là khả năng dẫn dắt vấn đề, khả năng gây thiện cảm, khả năng xử lý
tình huống của người thuyết trình.
-

Kết thúc thuyết trình
Người thuyết trình cần biết kết thúc đúng lúc. Khi người nói đã dùng đến cụm từ “cuối cùng

l à . . t h ì có nghĩa chỉ còn vài phút nữa thôi. Nếu sau đó, người nói vẫn còn muốn nói tiếp thì người
nghe sẽ cảm thấy rất ức chế. Sau khi tóm tắt những ý then chốt của bài nói chuyện và tuỳ theo tính chất
của bài nói chuyện mà đưa ra lời kêu gọi, lời chúc mừng, cần nhớ cảm ơn thính giả đã chú ý lắng nghe.
Trong trường hợp cần thiết, cần dành một ít thời gian để giải đáp những ý kiến, những thắc mắc của
người nghe.
I.3.4.2.

Một số điểm cần lưu ý với người thuyết trình

Ấn tượng đầu tiên bao giờ cũng có một vị trí nhất định ừong sự thành công của bài thuyết trình.
Để có được những ấn tượng tốt đẹp ấy, người thuyết trình cần chú ý một số điểm sau:
Trước hết người thuyết trình phải ăn mặc nghiêm túc, lịch sự, phù hợp với tính chất của buổi
thuyết trình. Tránh những bộ quần áo cầu kỳ, kiểu cách, xa lạ với người nghe. Quần áo phù hợp sẽ làm
cho người thuyết trình thêm tự tin. Bên cạnh đó, dáng đi chững chạc cũng thể hiện sự đường hoàng, tự
tin của người thuyết trình, không nên đi quá nhanh nhưng cũng đừng chậm chạp, ung dung, thong thả
quá. Khi bước ra chào, cần tiếp xúc bằng mắt và mỉm cười với người nghe.
Khi đứng ưên bục, người thuyết trình cần đứng thẳng người với tư thế tự nhiên, không bỏ tay túi
quần, mắt nhìn thẳng xuống người nghe, ánh mắt nhẹ nhàng, tôn ữọng và quan tâm. Trước khi nói
chuyện, cần tự giới thiệu về bản thân, những lời giới thiệu này nên ngắn gọn, không rườm rà, dài dòng.
Khi nói, giọng nói cần to, rõ ràng đủ cho người ngồi xa nhất cũng có thể nghe thấy. Thêm vào
đó, cần thay đổi tốc độ nói, nhịp độ nói: Khi lên, khi xuống, khi ừầm, khi bổng, khi nhanh, khi chậm,
khi lướt qua, khi nhấn mạnh, tuỳ thuộc vào nội dung trình bày. Trong quá trình trình bày, thường xuyên
đưa mắt xuống người nghe, bao quát tất cả những người có mặt ừong phòng, đừng để ai đó có cảm giác
bị “bỏ rơi”.
Ngoài ánh mắt, người thuyết trình cần chú ý sử dụng cả phương tiện phi ngôn ngữ khác như nét
mặt, cử chỉ, động tác. Tuy nhiên, cần sử dụng chúng một cách tự nhiên, hợp lý. Người diễn thuyết có
thể đi lại trong khi nói chuyện, song không nên rời khỏi tầm nhìn của một nhóm người nghe nào đó quá
lâu. Chẳng hạn, trong khi giảng bài, có những giáo viên đi xuống cuối lớp và dừng lại ở đó ữong một
khoảng thời gian.
Trong trường hợp này, những học sinh ngồi ở dãy bàn đầu dễ phân tán chú ý và sẽ khó tiếp thu bài
giảng hơn.
1
5

1.3.5.

Kỹ năng đọc và tóm tắt văn bản

I.3.5.I.

Kỹ năng đọc
Đọc là hoạt động nhận thức có từ lâu đời, nó xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước công nguyên. Đọc

là một kỹ năng. Để đọc có hiệu quả, chúng ta cần được dạy cách đọc và không ngừng rèn luyện để biến
kỹ năng thành kỹ xảo. Để đọc có hiệu quả, cần chú ý một vài khía cạnh sau:
Khi đọc một đoạn văn bản, chứng ta cần nắm được thông tin chứa đựng ừong đó. Trở ngại lớn
nhất cho sự lĩnh hội là khi đọc, người đọc không được tiếp xúc trực tiếp với người viết. Vì vậy, điểu cốt
lõi khi đọc là người đọc phải thực hiện một cuộc đối thoại ữong tưởng tượng với người viết, tức là phải
tập trung tư tưởng cao độ đặt câu hỏi, phân tích, và tự tìm lời giải đáp cho những câu hỏi đó. Đó là đọc
tích cực.
Tốc độ đọc cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của việc đọc. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, tốc độ
đọc trung bình vào khoảng 250 từ/1 phút. Bí quyết để đọc có hiệu quả là chọn tốc độ đọc phù hợp với
tài liệu. Không nên đọc nhanh với bất kỳ tài liệu nào, cũng đừng bận tâm đọc kỹ mọi thứ. Để có thể
quyết định có nên đọc một tài liệu nào đó hay không, hoặc đọc phần nào, tốc độ nào, người đọc có thể
sử dụng phương pháp khảo sát, phân tích và đọc với tốc độ phù họp. Khi khảo sát, người đọc chỉ cần
đọc phần đầu, phần cuối và lướt qua bố cục. Điều này giúp người đọc nắm bắt được cấu trúc tổng quát
và những điểm chính của văn bản. Từ đó, mà quyết định văn bản có đáng đọc hay không và đọc với tốc
độ nào.
Tóm lại, đọc là một kỹ năng quan trọng ừong giao tiếp gián tiếp. Nó giúp chúng ta thu thập được
nhiều thông tin có chiều sâu trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống.
I.3.5.2.

Kỹ năng tóm tắt văn bản

Tóm tắt văn bản là trình bày lại nội dung của văn bản, có loại bỏ những thông tin không cần thiết
theo mục đích đã định. Như vậy, văn bản tóm tắt bao
gọn hơn văn bản gốc. Trong tóm tắt văn bản, việc

giờ cũng ngắn
lựachọn thông tin nào để đưa vào

văn bản tóm tắt phụ thuộc vào mục đích và yêu cầu của người tóm tắt.
Khi tóm tắt văn bản, cần loại bỏ hết những thông tin không cần thiết đối với mục đích tóm tắt,
diễn đạt lại nội dung văn bản bằng cách vắn tắt và súc tích nhất nhưng vẫn phản ánh trung thực nội dung
của văn bản gốc. Điều khác biệt giữa văn bản tóm tắt và văn bản gốc là người tóm tắt phải diễn đạt lại
văn bản gốc theo ý của mình, hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng lại các câu, các đoạn của văn bản
gốc.
Nói chung, văn bản tóm tắt dài bao nhiêu là phụ thuộc vào văn bản gốc và mục đích và mục đích
tóm tắt của chúng ta. Cũng có những trường hợp cả một bài văn dài, chỉ được tóm tắt bằng một câu. Ví
1
dụ, khi giới thiệu bộ sử thi Ramayana của Ấn Độ thời cổ đại, tác giả Cao Huy Đỉnh viết: “Ramayana
6

chủ yếu mô tả cuộc tình duyên ừắc ừở và mối tình chung thuỷ của hoàng tử Rama và nàng Xita”.

1.4.Các tình huống giao tiếp đặc trưng
Con người sống ừong một xã hội với rất nhiều mối quan hệ giao tiếp phức tạp. Các tình huống
giao tiếp diễn ra hàng ngày với mỗi người cũng vô cùng phong phú. Để tìm hiểu một cách chung nhất,
ta có thể xem xét các tình huống giao tiếp nảy sinh ừong ba môi trường: Gia đình, nhà trường và xã hội.
1.4.1.

Tình huống giao tiếp trong gia đình

Gia đình xét ừên quan điểm của tâm lý học là một tập thể nhỏ, ừong đó mọi người quan tâm đến
nhau, chú ý đến những nhu cầu, hứng thú của nhau. Giao tiếp ữong gia đình là một yếu tố quan ữọng
ừong sự phát triển nhân cách của mỗi con người.
Không khí tươi vui, lành mạnh ừong gia đình là một “tiểu khí hậu” thuận lợi cho sự phát triển
đầu đời của mỗi chúng ta. Trong một gia đình đầm ấm, yêu thương thì ngay từ những ngày đầu tiên, con
ừẻ đã được phát triển dưới ảnh hưởng của sự giao tiếp thường xuyên với cha mẹ, ông bà, anh chị em. Sự
giao tiếp thường xuyên và tích cực này không chỉ gắn kết các thành viên trong gia đình lại với nhau, mà
còn xây dựng một nền tảng vững chắc cho việc hình thành kỹ năng giao tiếp sau này của ừẻ.
Mỗi một cá nhân sống ừong gia đình đều có vị trí nhất định, họ mang ừên mình nhiều chức danh.
Ví dụ: Người phụ nữ ừong gia đình có thể là vừa là người vợ, người mẹ, người con, người em,... Với
mỗi một chức danh họ lại có những tiêu chuẩn đạo đức, văn hoá, cách giao tiếp khác nhau. Làm sao
đảm bảo ừong gia đình có đầy đủ lễ nghĩa, có ưên có dưới để ữở thành một gia đình văn hoá.
Thời gian sống ừong gia đình của mỗi con người là rất lớn, vì vậy mà thời gian giao tiếp cũng
như các tình huống giao tiếp xảy ra trong gia đình cũng vô cùng phong phú và khá phức tạp. “Mỗi cây
mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, mỗi gia đình đều có những fruyen thống, những đặc điểm riêng, vì vậy mà
những tình huống phát sinh ữong các gia đình khác nhau là khác nhau.
Tình huống giao tiếp ữong gia đình nảy sinh do nhiều nguyên nhân như: Truyền thống đạo đức,
khác biệt giữa các thế hệ, bất đồng về tính cách giữa các thành viên,... Những tình huống này có khi chỉ
là tình huống giao tiếp xã giao thông thường như: Mời, chào, hỏi,... Nhưng có khi nó lại là những tình
huống giao tiếp có mâu thuẫn nảy sinh mà muốn giải quyết được, các thành viên ừong gia đình phải có
những kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống nhất định.
Xử lý tốt các tình huống giao tiếp nảy sinh trong gia đình sẽ mang đến không khí yên vui, hạnh
phúc. Góp phần làm nền tảng tinh thần và vật chất của mỗi thành viên thêm vững chắc.
1.4.2.

Tình huống giao tiếp trong nhà trường
Sau gia đình, nhà trường được xem như môi trường giao tiếp quan ữọng thứ hai, bởi lẽ nhà

trường không chỉ là nơi đào tạo, giáo dục con người về tri thức, nhân cách mà còn là nơi thiết lập những
mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến mỗi người đó là tình thầy ừò, tình bạn.
1

Môi trường giao tiếp ừong nhà trường là lớp học. Trong đó, đối tượng giao tiếp là thầy7cô, bạn
bè, sách vở. Khác với gia đình, cá nhân trong nhà trường không có quan hệ về huyết thống và đặc điểm
giao tiếp ừong môi trường này cũng có những sắc thái riêng, đó là “Kính thầy, yêu bạn”. Cũng chính từ

sắc thái riêng này mà chứng ta có thể phân chia các tình huống giao tiếp ừong nhà trường thành hai
mảng đó là: Tình huống giao tiếp giữa thầy giáo - Học sinh và tình huống giao tiếp giữa người học với
người học.
Để xử lý tốt cả hai mảng tình huống ừên, trước hết, chúng ta cần thể hiện sự khéo léo, tế nhị, linh
hoạt của bản thân sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau, đồng thời phải đảm bảo những
nguyên tắc cơ bản giữa các mối quan hệ. Những nguyên tắc cơ bản đó là gì? Sự tôn ừọng, yêu mến, hết
lòng vì học sinh của thầy đối với ữò; là lòng kính yêu, kính trọng của ừò với thầy giáo; là tình cảm yêu
thương, đoàn kết, tôn ừọng lẫn nhau giữa những người học.
Xử lý tốt các tình huống giao tiếp diễn ra trong nhà trường không những đem lại hiệu quả cao
ữong học tập mà còn làm đẹp thêm giá trị nhân cách của mỗi con người.
1.4.3.

Tình huống giao tiếp trong xã hội

Môi trường giao tiếp thứ ba này là môi trường rộng lớn nhất, phức tạp nhất và phong phú nhất. Ở
đây, chúng ta chỉ xét ừên những mối quan hệ xã hội phổ biến nhất đối với sinh viên.
Cuộc sống hàng ngày của sinh viên, ngoài những giờ lên lớp, tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, sách
vở để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của mình, họ còn tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác
xung quanh họ để thoả mãn nhu cầu về tâm lý, cũng như nhu cầu phát triển về nghề nghiệp.
Các tình huống giao tiếp nảy sinh ừong những mối quan hệ xã hội của sinh viên chủ yếu ữên ba
mặt sau: Tình bạn, tình yêu, công việc (công việc làm thêm, khi đi phỏng vấn,...), và mối quan hệ xã hội
khác (ừong xóm trọ, ừong kí túc xá,...). Những tình huống giao tiếp này ảnh hưởng tới sinh viên về
nhiều mặt như tâm lý, tình cảm, sự nghiệp. Để giải quyết tốt các tình huống này, cần có những yêu cầu
khác nhau như ữong phỏng vấn xin việc cần có kỹ năng ưả lời câu hỏi của nhà tuyển dụng, ừong tình
yêu cần có sự cảm thông, chia sẻ, tôn trọng,...
Tóm lại, để xử lý tốt các tình huống giao tiếp nói ữên, mỗi sinh viên chứng ta, ngoài nhiệm vụ
học tập để ừang bị cho mình tri thức mới, cần trang bị thêm những kỹ năng giao tiếp để hoàn thiện thêm
hành trang để làm chủ cuộc sống sau này.
1.5.

Đặc điểm giao tiếp của sinh viên Sư phạm Kỹ thuật Công nghiệp

1.5.1. Đặc điểm giao tiếp của sinh viên Sư phạm
Giao tiếp có ý nghĩa cực kỳ quan ữọng đối với mỗi người. Con người luôn sống ừong xã hội, nên
giao tiếp giữa người với người là nhu cầu tất yếu. Sinh viên Sư phạm cũng như con người,
cuốn vào những hệ

thống khác nhau của

Trong quá trình giao tiếp đó những nguyên tắc sống,

luôn luôn

giao tiếp.
những tiêu chuẩn đạođức được

hình thành và ngày càng hoàn thiện.
1

Trong trường Đại học, sinh viên nói chung và sinh viên Sư phạm nói riêng sống ừong những
lớp
8
học, một ừong những đom vị cơ sở ữong hệ thống dạy học ữong trường. Ở đó, họ có cuộc sống tập thể,
tiếp thu tri thức mới hiện đại, sâu sắc của loài người, hình thành và phát triển nhân cách, tu dưỡng

những phẩm chất đạo đức và năng lực của mình. Bên cạnh những vấn đề ữên giao tiếp cũng ữở thành
một vấn đề đặc biệt quan ữọng và có đặc thù riêng ở mỗi trường. Nhưng hầu hết sinh viên Sư phạm đều
mang những đặc điểm sau trong giao tiếp:
Nhu cầu giao tiếp của sinh viên Sư phạm ngày một tăng cao theo yêu cầu của Giáo dục, đó là xu
thế phù hợp với xu thế chung của xã hội và lịch sử. Không thể có sự cô đơn trong đa số các trường hợp
như quan niệm của một số học giả Tiến sĩ.
Phạm vi giao tiếp của sinh viên Sư phạm là rất tập trung. Nó đặc trưng bởi hoạt động hoc tập.
Đối tượng chủ yếu là bạn học, ngoài ra còn giao tiếp với cán bộ ừong trường, với học sinh phổ thông và
các đối tượng khác.
Nội dung giao tiếp của sinh viên sư phạm đặc trưng bởi hoạt động chủ đạo là học tập. Ngoài ra
còn trao đổi với bạn bè về tình bạn, tình yêu. Không khí giao tiếp ừong tập thể sinh viên tốt, lành mạnh,
cởi mở, sôi nổi, có sự thống nhất hành động.
1.5.2. Đặc điểm giao tiếp của sinh viên Sư phạm Kỹ thuật Công nghiệp
Trong giao tiếp, sinh viên Sư phạm Kỹ thuật Công nghiệp cũng mang những đặc điểm chung của
sinh viên, cũng như sinh viên Sư phạm. Nhưng bên cạnh đó, họ lại có những nét riêng, được hình thành
do ngành học.
Môn Kỹ thuật Công nghiệp là một ừong những môn học của học sinh phổ thông ừên cả nước.
Mặc dù được đưa vào và ưở thành một môn học chính thức, bắt buộc ữong chương trình đào tạo đã từ
lâu. Nhưng cho đến nay, môn học này vẫn chưa được đánh giá đúng mức, và bị xếp vào một ừong
những môn “phụ” bên cạnh các môn “chính” như: Toán, lý, hoá, văn, ngoại ngữ,... Sinh viên theo học
ngành học này ừong các trường ừên cả nước không nhiều và hầu hết là sinh viên nữ. Cơ hội làm việc
của sinh viên ừong các hoạt động giáo dục khi theo học ngành học này cũng không cao như các sinh
viên Sư phạm ngành học khác. Lấy ví dụ như một công việc làm thêm phổ biến của sinh viên Sư phạm
đó là làm gia sư. Một phần giúp sinh viên tích lũy thêm kiến thức và kinh nghiệm cho nghề nghiệp của
mình sau này, một phần có thu nhập thêm về kinh tế. Nhưng một điều dễ nhận thấy là sinh viên Sư
phạm Kỹ thuật Công nghiệp có tỷ lệ làm gia sư thấp hơn so với các khoa khác, đơn giản vì nhu cầu của
người học không đúng chuyên môn của họ. số lượng giáo viên Kỹ thuật Công nghiệp ừong các trường
phổ thông cũng ít hơn rất nhiều so với giáo viên Toán, Lý, Hóa,...
Chính những đặc điểm ừên về ngành học tạo nên một vài nét riêng biệt ừong đặc điểm giao tiếp
của sinh viên Sư phạm Kỹ thuật Công nghiệp đó là: Phạm vi và đối tượng giao tiếp bị thu hẹp. Sự chủ
động và tích cực ừong giao tiếp còn hạn chế. Điều này được thể hiện không chỉ qua công việc làm thêm
mà ở cả các hoạt động ngoại khoá ừong trường và xã hội do sinh viên Sư phạm Kỹ thuật công nghiệp
1 tiếp
thực hiện. Hầu hết sinh viên Sư phạm Kỹ thuật còn “ngại” khi giao tiếp với những môi trường giao

ngoài sách vở, trường lớp và bạn học.

9

Tóm lại, mặc dù có những đặc điểm giao tiếp riêng do đặc thù ngành học nhưng sinh viên Sư
phạm Kỹ thuật Công nghiệp cũng giống như sinh viên Sư phạm nói chung đều là đối tượng được giáo

dục đồng thời cũng là nhà giáo dục tương lai, nên việc tìm hiểu đặc điểm và phát triển kỹ năng giao tiếp
cho sinh viên là vô cùng cần thiết, có ảnh hưởng lâu dài đến một thế hệ nhà giáo cũng như học sinh sau
này.
CHƯƠNG2
THựC TRẠNG NHU CẦU GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH
VIÊN KHOA Sư PHẠM KỸ THUẬT - TRƯỜNG ĐHSP KỸ THUẬT
HƯNG YÊN

Trong phần tìm hiểu thực ừạng nhu cầu giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của sinh viên Khoa Sư
phạm Kỹ thuật - Trường ĐHSP Kỹ thuật Hưng Yên, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau ữong
đó có phương pháp điều ưa bằng phiếu hỏi (Ansquest) ưên 200 sinh viên của khoa ở cả 4 khối: Năm I,
năm II, năm III, năm IV. Cụ thể là các lớp: KTK7.1, KTK39, KTK6.1, KTK6.2, KTK5.1, KTK5.2,
KTK4.2, KTK3, KTK7LC. Trong đó có 73 nam và 127 nữ, riêng lớp KTK7LC, tôi xếp chung với nhóm
năm rv, vì hầu hết phiều điều ữa phát ra tại lớp KTK7LC đều ữên đối tượng là sinh viên lớp KTK36 của
khoa, tốt nghiệp tháng 8 năm 2009, nhập học tháng 10 năm 2009.
Phiếu điều ưa chia làm bốn phần: I - Nhu cầu giao tiếp; II - Nội dung giao tiếp; m - Mức độ cởi
mở của cá nhân; IV - Kỹ năng giao tiếp. Tổng số là 95 câu. Với mỗi mục khác nhau, có số lượng câu
hỏi và cách đánh giá khác nhau. Nội dung phiếu điều ữa được trình bày ở phần phụ lục.
2.1.Nhu cầu giao tiếp
Để tìm hiểu nhu cầu giao tiếp của sinh viên Khoa Sư phạm Kỹ thuật, tôi đã sử dụng phiếu ữắc
nghiệm p.o do Trường ĐHSP Lênin (Liên Xô cũ). Gồm 33 câu hỏi ừả lời “Đúng”, “Không”. Trả lời
“Đúng” ở những câu sau đây được một điểm: 1, 2, 7, 8, 11, 12, 13, 14, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 26,
28, 30, 31, 32. Trả lời “Không” ở những câu sau đây được một điểm: 3, 4, 5, 6, 9, 10, 15, 16, 25, 27, 29.
Sau đó tính tổng số điểm đạt được của đối tượng được điều ữa rồi đối chiếu theo bảng phân mức độ.
Nhìn chung, giao tiếp là một vấn đề không thể thiếu được ừong đời sống của sinh viên Sư phạm
nói chung và sinh viên Khoa Sư phạm Kỹ thuật nói riêng. Hoạt động giao tiếp là một ừong những
hoạt động nổi bật của người sinh viên. Phần lớn sinh viên đều có nhu cầu muốn được giao tiếp với
người khác và nhu cầu giao tiếp ngày càng phong phú, đa dạng, phù hợp hom với xu thế phát triển đi
lên của xã hội, phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Cũng qua tìm hiểu thực ừạng nhu cầu
giao tiếp của sinh viên khoa Sư phạm kỹ thuật, tôi nhận thấy nhu cầu giao tiếp là không đồng đều, có
sự chênh lệch giữa nam và nữ, giữa các khối lớp.
2.1.1.

Thực trạng nhu cầu giao tiếp của sinh viên nam Khoa Sư phạm Kỹ thuật

2
0

Nhu cầu giao tiếp của sinh viên nam có sự chênh lệch giữa các khối theo các mức độ khác
nhau, được thể hiện rõ nét qua bảng sau:

Bảng 2.1. Nhu cầu giao tiếp của sinh viên nam Khoa Sư phạm Kỹ thuật
Mức độ
Trung bình
TB thâp
Thâp (3 TB cao
(23 - 24)

(21 - 22)

20)

Cao (28 32)

(25 -27)

Năm học
SL

TL%

SL

TL%

I (12 người)

3

25

4

II (12 người)

7

TU (19 người)
IV (30 người)

10
14

X (73 người)

34

SL

TL%

SL

TL%

SL

TL%

33,33 3

25

2

0

58,33 2
52,63 4

16,66 2
21,05 3
23,33 7

10,52 0
6,67 0

0

46.67 7

16,66 1
15,78 2
23,33 2

16,67 0
8,33 0

46,57 17

23,28 15

20,54 7

9,59

0

0
0

0

Qua bảng số liệu ta thấy một điểm nổi bật, đó là: mức độ nhu cầu giao tiếp cao, không có một
sinh viên nam nào.
Trong khi đó, tỷ lệ của sinh viên nam ở mức độ thấp lại chiếm khá cao 34/73 người (46,57%) và
sinh viên năm thứ II có tỷ lệ mức độ nhu cầu giao tiếp thấp là cao nhất 7/12 người (58.33%).
Ở mức độ nhu cầu giao tiếp trung bình cao, tỷ lệ sinh viên nam đạt được chiếm tỷ lệ khiêm tốn
7/73 người (9,59%). Trong đó, cao nhất là sinh viên năm I với 2/12 người (16.67%).
Như vậy, ta dễ dàng nhận thấy rằng nhu cầu giao tiếp của sinh viên nam khoa Sư phạm kỹ thuật
còn thấp, đặc biệt là khối sinh viên năm n. Bên cạnh đó, giữa các năm học có sự chênh lệch khá lớn về
nhu cầu giao tiếp.
2.1.2.

Thực trạng nhu cầu giao tiếp của sinh viên nữ Khoa Sư phạm Kỹ thuật

Để đánh giá một cách rõ nét thực ừạng nhu cầu giao tiếp của sinh viên nữ Khoa Sư phạm Kỹ
thuật, ta xem xét bảng số liệu sau:
Bảng 2.2. Nhu cầu giao tiếp của sinh viên nữ Khoa Sư phạm Kỹ thuật
\]Vlức độ
Thâp
TB thâp
Trung
TB cao
(2 -22)
1

(3 -20)
Năm

38,46 5

19,23 5

19,23 3

11,53 3

11.53

ĩĩ(20người)

10
13

65

15

15

5

0

0

ĩĩĩ(45người)

12

26,67 13

28,89 17

1
37,77 3

6,67

0

0

YV(36người) 8
X (127người) 44

22.22 12
34.65 33

33.33 8
25.98 33

22.22 4
25.98 11

11.11 3

mức này chiếm 4.22% (6/127 người).

3

SL

TL%

(28 -32)

TL%

3

TL%

(2 -27)
5

SL
l(26người)

SL

bình
(2 -24)
3
SL TL%

Cao

8.66

SL

6

TL%

8.33
4,72 2
1