Tải bản đầy đủ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

31

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XI, nhiệm kỳ 20152020, nhất là sau khi thực hiện Chương trình số 23-CTr/TU, ngày 19-6-2012 của
Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kết luận số 56-KL/TW, ngày 21-02-2013 của Bộ
Chính trị về củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, đến nay
huyện có 103 tổ hợp tác, 1.132 hộ với 943,62 ha, chủ yếu hợp tác sản xuất theo
các mô hình như: tôm – lúa, lúa – màu, lúa chất lượng cao, các mô hình nuôi
thủy đặc sản khác, nuôi cá bống tượng, cá chình, nuôi heo...
Tốc độ tăng trưởng (GRDP) giai đoạn này ước đạt 14,35% (Kế hoạch là
14%). Thu nhập bình quân đầu người năm 2014, ước đạt 2.486
USD/người/năm, tương đương 52,934 triệu đồng/người/năm (tăng 27,241 triệu
đồng/người/năm so với năm 2010). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 2.087 tỷ đồng;
trong đó, vốn nhà nước 460 tỷ đồng, vốn đầu tư của cư dân và doanh nghiệp 1.017
tỷ đồng, vốn khác 610 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách 261,517 tỷ đồng (KH là
196,079 tỷ đồng, ước đạt 133%KH); trong đó, các khoản thu cân đối ngân sách
136,469 tỷ đồng; thu quản lý qua ngân sách 125,048 tỷ đồng. Chi ngân sách
1.718,003 tỷ đồng; trong đó, chi cân đối ngân sách địa phương 1.596,057 tỷ
đồng, các khoản chi quản lý qua ngân sách 121,946 tỷ đồng. Tổng sản lượng
lương thực ước đạt 863.749 tấn. Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 81.836 tấn;
sản lượng cá 40.932 tấn, sản lượng tôm 40.431 tấn. Doanh thu thương mại - dịch
vụ là 2.786,606 tỷ đồng; trong đó, mức bán lẻ hàng hóa 2.244,227 tỷ đồng; doanh
thu dịch vụ lưu trú và ăn uống 542,693 tỷ đồng. Tỷ lệ huy động trẻ 3-5 tuổi đến
trường đến nay đạt 45%; trẻ 6-10 tuổi đạt 99,2%; trẻ 6-14 tuổi đạt 99,4%. Tốc
độ tăng dân số tự nhiên đến năm 2015 là 11%o; tỷ lệ sinh chiếm 15%o; tỷ lệ
người tham gia BHYT là 64,04%. Quan tâm việc đào tạo nghề , giới thiệu và
giải quyết việc làm cho 17.919 lao động, bình quân mỗi năm là 3.523 người (KH
là 3.400 người/năm); tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 là 30%. Tỷ lệ hộ
nghèo còn 4%.

32

4.1.2. Tình hình hoạt động của các THT trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận
Qua 05 năm thực hiện phong trào xây dựng phát triển KTTT, Ban Chỉ đạo
phát triển Kinh tế tập thể huyện đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn (Phòng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Công thương) phối hợp chặt chẽ
với các ban, ngành, đoàn thể huyện, Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn tiến hành
rà soát, củng cố, kiện toàn, nâng lên chất lượng hoạt động các Tổ kinh tế hợp tác
trên địa bàn huyện; đồng thời giải thể các mô hình làm ăn kém hiệu quả, hoạt
động cầm chừng; năm 2014, toàn huyện có tổng số 72 THT, 887 thành viên, với
diện tích canh tác 991,53 ha, đến nay nâng lên 101 THT, 1.132 hộ với 943,62
ha, chủ yếu hợp tác sản xuất theo các mô hình như: tôm – lúa, lúa – màu, nuôi cá
bống tượng, trồng màu, nuôi trồng thủy sản, nuôi gà, nuôi heo.
Kết quả thống kê về các mô hình THT cho thấy, trong 101 THT tại huyện
Vĩnh Thuận thì mô hình Nuôi cá bóng tượng chiếm đa số, có 25 THT, các THT
khác có số lượng gần bằng nhau, số THT nuôi heo có số lượng ít trong các loại
mô hình THT.

Biểu đồ 4.1: Phân loại các mô hình THT
Nguồn: Báo cáo của Phòng NN&PNNT huyện Vĩnh Thuận 2016

33

Xét về địa bàn, kết quả khảo sát 101 THT cho thấy, địa bàn xã Vĩnh
Phong có số lượng THT nhiều nhất, với 32 THT; tiếp điến là xã Vĩnh thuận với
15 THT; những nơi còn lại có số lượng THT chênh lệch không cao, giao động từ
7 đến 12 THT. Thực tế cho thấy, địa bàn xã Vĩnh Phong có điều kiện tự nhiên
thích hợp cho mô hình nuôi cá bóng tượng, nên số lượng mô hình THT ở đây
tương đối cao hơn các mô hình khác.

Biểu đồ 4.2: Số lượng THT theo địa bàn
Nguồn: Báo cáo của Phòng NN&PNNT huyện Vĩnh Thuận 2016
Thống kê về việc các hỗ trợ cho các mô hình THT cho thấy, trong 101
THT có 78 tổ hợp tác được hỗ trợ vốn, 74 THT được hỗ trợ thu hoạch, 58 THT
được hỗ trợ vật tư, 56 THT được hỗ trợ giống, 54 THT được hỗ trợ bơm nước,
46 THT được hỗ trợ đầu ra sản phẩm. Thực tế cho thấy, khi tổ chức THT cái
khó khăn nhất của các tổ viên là thiếu vốn sản xuất. Những hỗ trợ kịp thời của
nhà nước về vốn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các THT đầu tư và mở rộng sản
xuất. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế hiện nay còn khó khăn, đặc biệt là tìm
đầu ra cho sản phẩm của các THT. Kết quả cho thấy, tuy chính quyền địa
phương có quan tâm hỗ trợ đầu ra cho các mô hình THT nhưng sự hỗ trợ này
chưa cao, chỉ có 45,5% THT được hỗ trợ.

34

Biểu đồ 4.3: Thống kê số lượng hỗ trợ
Nguồn: Báo cáo của Phòng NN&PNNT huyện Vĩnh Thuận 2016
Thống kê về công tác quản lý các THT của các hội đoàn thể ở Biểu đồ 4.4
cho thấy, trong 101 THT thì số THT do Hội nông dân quản lý chiếm 38%, do
Đoàn thanh niên quản lý 31%, do Hội phụ nữ quản lý 24% và do Hội Cựu chiến
binh quản lý 7%. Do đặc điểm của các mô hình THT đa số là THT trong lĩnh
vực nông nghiệp, những THT này phần lớn thuộc Hội nông dân quản lý. Các
Hội đoàn thể khác thành lập các THT là do các chương trình hỗ trợ hội viên và
các nguồn vốn được ủy thác từ NH CSXH.

Biểu đồ 4.4: Thống kê số THT do hội đoàn thể quản lý
Nguồn: Báo cáo của Phòng NN&PNNT huyện Vĩnh Thuận 2016

35

Thực hiện Quyết định 2559/QĐ-UBND, ngày 08-12-2014 của Uỷ ban nhân
dân tỉnh về việc ban hành Quy định tạm thời về tiêu chí đánh giá, phân loại Hợp tác
xã, Tổ kinh tế hợp tác, Ban Chỉ đạo huyện chỉ đạo các ngành chuyên môn, Đảng ủy,
Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn tổ chức đánh giá lại kết quả hoạt động của các Hợp
tác xã, Tổ kinh tế hợp tác, kết quả có 61 tổ hoạt động khá; 34 tổ hoạt động trung
bình, yếu 05 tổ, năm 2015 mới thành lập 01 tổ nên chưa xếp loại.
Nhìn chung, chất lượng hoạt động của Tổ kinh tế hợp tác có nâng lên,
nhưng hiệu quả mang lại của một số Tổ hợp tác theo đánh giá là chưa sát đúng
tình hình; cơ sở vật chất, nguồn vốn đầu tư và trình độ của một vài cán bộ quản
lý Tổ hợp tác còn hạn chế; chưa có nhiều định hướng trong hoạt động, từ đó
hiệu quả kinh tế mang lại cho Tổ viên chưa cao; khả năng tiếp cận nguồn vốn hỗ
trợ còn hạn chế, nhất là các nguồn vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội và các
nguồn hỗ trợ từ cấp trên như Hội Nông dân tỉnh, Liên minh Hợp tác xã tỉnh.
4.2. THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT
4.2.1. Đặc điểm chủ hộ gia đình
Giới tính chủ hộ: kết quả khảo sát 120 hộ gia đình cho thấy, chủ hộ có
giới tính nam chiếm 80% và chủ hộ có giới tính nữ chiếm 20%. Do Vĩnh Thuận
là vùng chuyên sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, chủ hộ có giới tính
nam có lợi thế hơn trong sản xuất.
Bảng 4.1: Giới tính chủ hộ
Giới tính

Số hộ

%

Nam

96

80,00

Nữ

24

20,00

Tổng

120

100

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Dân tộc chủ hộ:
Huyện Vĩnh Thuận hiện tại có 03 dân tộc chính cùng sinh sống gồm dân
tộc Kinh, Hoa và Khmer. Kết quả khảo sát 120 hộ gia đình cho thấy, có 80,83%
hộ gia đình có chủ hộ là dân tộc Kinh hoặc Hoa và 19,17% hộ có chủ hộ là dân
tộc Khmer. Người dân thuộc dân tộc Kinh và Hoa thường tập trung nhiều ở thị

36

trấn, trung tâm các xã, điều kiện kinh tế có phần khá hơn so với những hộ thuộc
dân tộc Khmer. Do tập quán sản xuất, người dân tộc Khmer thường sống ở vùng
nông thôn, họ ích tham gia các hội đoàn thể.
Bảng 4.2: Dân tộc chủ hộ
Dân tộc

Số hộ

%

Kinh hoặc Hoa

97

80,83

Khác

23

19,17

Tổng

120

100

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Tuổi và Học vấn chủ hộ:
Tuổi và học vấn của chủ hộ ảnh hưởng đến quyết định có tham mô hình
THT hay không. Chủ hộ có học vấn càng cao họ càng thấy được những lợi ích
khi tham gia THT. Kết quả khảo sát cho thấy, trung bình tuổi của chủ hộ gia
đình trên địa bàn là 43,44 tuổi, chủ hộ có tuổi đời nhỏ nhất là 24 tuổi, chủ hộ có
tuổi đời cao nhất là 59 tuổi. Trung bình học vấn của chủ hộ là 5,52, chứng tỏ
trình độ học vấn của chủ hộ không cao, có những hộ chỉ học lớp 1. Thực tế cho
thấy, những người trẻ tuổi do có điều kiện học tập nên có trình độ học vấn cao
hơn hộ có tuổi đời cao hơn. Người tiếp cận nhanh với các mô hình KTTT cao
hơn so với những hộ có tuổi đời cao. Mặt khác, người trẻ tuổi thích tổ chức sản
xuất theo mô hình mới, ngược lại những người lớn tuổi, có kinh nghiệm trong
sản xuất, họ ngại rủi ro và không quen với mô hình hợp tác sản xuất, do đó họ ít
tham gia các THT.
Bảng 4.3: Tuổi, Học vấn chủ hộ
N

Trung

Độ lệch

Giá trị

Giá trị lớn

bình

chuẩn

nhỏ nhất

nhất

Tuổi

120

43,44

10,61

24

59

Học vấn

120

5,52

4,25

1

12

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

37

4.2.2. Đặc điểm hộ gia đình
Đặc điểm hộ gia đình được thể hiện qua qui mô hộ gia đình và tỷ lệ người
phụ thuộc trong hộ. Kết quả khảo sát 120 hộ gia đình cho thấy, trung bình số
thành viên trong hộ là 4 người, có những gia đình chỉ có 2 thành viên nhưng
cũng có gia đình có đến 9 thàng viên cùng sinh sống. Trung bình tỷ lệ phụ thuộc
là 37%, có những hộ không có người phụ thuộc, tuy nhiên có những hộ lại có tỷ
lệ phụ thuộc lên đến 80%.
Bảng 4.4: Đặc điểm hộ gia đình
N

Trung

Độ lệch

Giá trị nhỏ

Giá trị

bình

chuẩn

nhất

lớn nhất

Qui mô hộ

120

4,00

1,33

2

9

Tỷ lệ phụ thuộc

120

0,37

0,22

0

0,8

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
4.2.3. Hỗ trợ vốn
Hộ trợ vốn cho sản xuất nông nghiệp góp phần quan trọng giúp người dân
có nguồn vốn mở rộng qui mô đầu tư, cải thiện sản xuất. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, trong 120 hộ gia đình, có 64 hộ được hỗ trợ vốn, chiếm 53,33% và 46
hộ không được hỗ trợ vốn sản xuất, chiếm 46,67%.

Biểu đồ 4.5: Hỗ trợ vốn
Nguồn: Báo cáo của Phòng NN&PNNT huyện Vĩnh Thuận 2016

38

4.3. MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM MẪU KHẢO SÁT THEO THAY ĐỔI THU
NHẬP
Về giới tính chủ hộ, trong 96 hộ có chủ hộ là nam giới, có 58 hộ tăng thu
nhập, chiếm 60,42% và 38 hộ không tăng thu nhập, chiếm 39,58%. Đối 24 hộ có
chủ hộ là nữ giới, có 4 hộ tăng thu nhập, chiếm 16,67% và 20 hộ không tăng thu
nhập, chiếm 83,33%. Điều này chứng tỏ, số hộ có chủ hộ là nam giới tăng thu
nhập nhiều hơn số hộ có chủ hộ là nữ giới.
Bảng 4.5: Thay đổi thu nhập theo giới tính
Giới tính
Thay đổi thu nhập

Nam
Số hộ

Tổng

Nữ

%

Số hộ %

Số hộ %

Tăng thu nhập

58

60,42

4

16,67

62

51,67

Không tăng thu nhập

38

39,58

20

83,33

58

48,33

Tổng

96

100,0

24

100,0

120

100,0

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Xét về dân tộc chủ hộ, trong 97 hộ có chủ hộ là dân tộc Kinh hoặc Hoa có
56 hộ tăng thu nhập, chiếm 57,73%; trong khi trong số 23 hộ dân tộc khác, có 6
hộ tăng thu nhập, chiếm 26,09%. Kết quả cho thấy, chủ hộ là dân tộc Kinh hoặc
Hoa có số lượng hộ tăng thu nhập nhiều hơn chủ hộ là dân tộc khác.
Bảng 4.7: Thay đổi thu nhập theo dân tộc
Dân tộc
Thay đổi thu nhập

Kinh hoặc Hoa
Số hộ

%

Khác
Số hộ %

Tổng
Số hộ %

Tăng thu nhập

56

57,73

6

26,09

62

51,67

Không tăng thu nhập

41

42,27

17

73,91

58

48,33

Tổng

97

100,0

23

100,0

120

100,0

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Về tăng thu nhập theo tuổi, trung bình độ tuổi của chủ hộ tăng thu nhập là
40,63 tuổi, trong khi tuổi trung bình chủ hộ của hộ không tăng thu nhập là 46,35

39

tuổi. Thực tế cho thấy, người trẻ tuổi tham gia THT nhiều hơn, họ chấp nhận rủi
ro và muốn tìm mô hình sản xuất mới đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Bảng 4.8: Thay đổi thu nhập theo tuổi
Tuổi chủ hộ
Thay đổi thu nhập

n

Trung

Độ lệch

Giá trị

Giá trị

bình

chuẩn

nhỏ nhất

lớn nhất

Tăng thu nhập

62

40,63

11,49

24

59

Không tăng thu nhập

58

46,35

8,71

26

59

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Học vấn chủ hộ ảnh hưởng đến việc tăng thu nhập của hộ gia đình. Kết
quả khảo sát 120 hộ gia đình cho thấy, trung bình học vấn của nhóm hộ có thu
nhập tăng là 8,21 và nhóm hộ không tăng thu nhập là 2,64. Thực tế cho thấy, hộ
tham gia THT có trình độ càng cao thì dễ dàng tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất, dẫn đến hiệu quả kinh tế càng cao. Hộ có học vấn càng cao
thì khả năng tăng thu nhập của hộ đó nhiều hơn.
Bảng 4.9: Thay đổi thu nhập theo học vấn
Học vấn chủ hộ
Thay đổi thu nhập

n

Trung

Độ lệch

Giá trị

Giá trị

bình

chuẩn

nhỏ nhất

lớn nhất

Tăng thu nhập

62

8,21

3,56

1

12

Không tăng thu nhập

58

2,64

2,80

1

12

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Về qui mô hộ gia đình, do đặc điểm vùng nông thôn có qui mô hộ gia
đình thường cao hơn khu vực thành thị. Trong những năm gần đây, nhà nước ta
có những chính sách dân số phù hợp, mặt khác hộ gia đình cũng ý thức được
gánh nặng chi tiêu khi gia đình đông thành viên. Kết quả khảo sát cho thấy,
trung bình qui mô hộ của nhóm có thu nhập tăng là 3,87 người, trong khi trung
bình qui mô hộ của hộ không tăng thu nhập là 4,14 người. Qui mô hộ gia đình

40

càng đông thì gánh nặng chi tiêu càng tăng, chính vì thế làm cho thu nhập của
hộ gia đình không tăng.
Bảng 4.10: Thay đổi thu nhập theo qui mô hộ
Qui mô hộ
Thay đổi thu nhập

n

Trung

Độ lệch

Giá trị

Giá trị

bình

chuẩn

nhỏ nhất

lớn nhất

Tăng thu nhập

62

3,87

1,15

2

6

Không tăng thu nhập

58

4,14

1,50

2

9

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Về tỷ lệ phụ thuộc, kết quả khảo sát cho thấy, trung bình tỷ lệ phụ thuộc
của nhóm có thu nhập tăng là 32%, trong khi nhóm không có thu nhập tăng là
41%. Điều này cho biết, tỷ lệ phụ thuộc của nhóm hộ không tăng thu nhập lớn
hơn tỷ lệ phụ thuộc của nhóm tăng thu nhập. Tỷ lệ phụ thuộc càng cao dẫn đến
số lao động tạo ra thu nhập trong hộ càng ít, đồng thời chi tiêu của hộ cũng tăng
lên, do đó thu nhập của hộ sẽ giảm.
Bảng 4.11: Thay đổi thu nhập theo tỷ lệ phụ thuộc
Tỷ lệ phụ thuộc
Thay đổi thu nhập

n

Trung

Độ lệch

Giá trị

Giá trị

bình

chuẩn

nhỏ nhất

lớn nhất

Tăng thu nhập

62

0,32

0,22

0

0,8

Không tăng thu nhập

58

0,41

0,22

0

0,8

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Hỗ trợ vốn cho hoạt động của THT là việc làm cần thiết, khuyến khích
người dân tham gia mô hình liên kết trong sản xuất. Kết quả khảo sát cho thấy,
trong 64 hộ được hỗ trợ vốn có 43 hộ tăng thu nhập, chiếm 67,19%, 21 hộ
không tăng thu nhập, chiếm 32,81%. Chứng tỏ, hộ gia đình có thể tiếp cận được
nguồn vốn và được hỗ trợ lãi suất cho vay làm cho thu nhập của hộ gia đình tăng
lên.

41

Bảng 4.12: Thay đổi thu nhập theo hỗ trợ vốn
Hộ trợ vốn
Thay đổi thu nhập

Có hỗ trợ

Số hộ

%

Không được

Tổng

hỗ trợ
Số

Số hộ %

hộ

%

Tăng thu nhập

43

67,19

19

33,94

62

51,67

Không tăng thu nhập

21

32,81

37

66,07

58

48,33

Tổng

64

100,0

56

100,0

120

100,0

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016
Về thay đổi thu nhập, kết quả khảo sát cho thấy, trong 62 hộ có thu nhập
tăng, có 42 hộ tham gia THT, chiếm 67,74%, 20 hộ không tham gia THT, chiếm
32,26%. Điều này chứng tỏ, tham gia THT làm tăng thu nhập của hộ gia đình.
Thực tế cho thấy, khi làm gia THT, các hộ gia đình cùng sản xuất theo một lịch
thời vụ, bón phân, phun thuốc cùng một thời điểm nên ít có dịch hại sâu bệnh.
Mặt khác, các chi phí bơm nước, chi phí thu hoạch cũng giảm so với sản xuất
riêng lẻ. Chính từ đó, làm giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập của hộ gia đình.
Bảng 4.13: Tham gia THT theo thay đổi thu nhập
Thay đổi thu nhập
Tham gia THT

Tăng thu

Không tăng

nhập

thu nhập

Số hộ

%

Số hộ %

Tổng

Số hộ %

Không tham gia

20

32,26

40

68,97

60

50,00

Có tham gia

42

67,74

18

31,03

60

50,00

Tổng

62

100,0

58

100,0

120

100,0

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016