Tải bản đầy đủ
MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ

24

3.2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Mô hình Binary logistic phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
tăng thu nhập của hộ gia đình tham gia THT. Phương pháp này dùng để ước
lượng mối quan hệ phụ thuộc giữa biến phụ thuộc- xác suất xảy ra một hiện
tượng nào đó (ví dụ: xác xuất thay đổi thu nhập) với các biến độc lập khác.
Dạng tổng quát của mô hình hồi qui Binary logistic:

Y là biến giả, có giá trị bằng 1 nếu thu nhập năm 2015 của hộ gia đình
tăng so với năm 2014, nhận giá trị bằng 0 nếu thu nhập của hộ gia đình năm
không tăng hoặc giảm so với năm 2014.
X i : là các biến độc lập trong mô hình (i=1.2…n)
: là các hệ số hồi quy (i=1.2…n)
ε: là sai số.
Để đánh giá tác động của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc, tác giả sử
dụng mô hình Binary Logistic để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
có thay đổi thu nhập của hộ gia đình tham gia THT, cụ thể như sau:

 P(thaydoitn = 1) 
ln 
 = β 0 + β1 gioitinh + β 2 dantoc + β 3tuoi + β 4 vanhoa + β 5 quimo
 P(thaydoitn = 0) 
+ β 6 tylept + β 7 thamgia + β 8 hotrovon + hotrovon + ε

25

Bảng 3.1: Các biến trong mô hình
Tên biến

Nội dung

Kỳ
vọng

Biến phụ thuộc
Thaydoitn

Biến thay đổi thu nhập nhận giá trị 1 nếu thu
nhập hộ tăng, nhận giá trị 0 nếu thu nhập
của hộ không tăng.
Biến độc lập
Giới tính chủ hộ là biến giả, nhận giá trị 1

Gioitinh

nếu chủ hộ là nam và nhận giá trị 0 nếu chủ

+

hộ là nữ.
Tuoi

Tuổi của chủ hộ (tuổi).

+

Dân tộc của chủ hộ, nhận giá trị 1 nếu hộ là
Dantoc

dân tộc Kinh hoặc Hoa và nhận giá trị 0 nếu

+

hộ là dân tộc khác.
Hocvan
Quimo

Số năm đi học (năm).
Qui mộ hộ được thể hiện bằng tổng số thành
viên đang sinh sống trong hộ gia đình.

+
-

Tỷ lệ phụ thuộc được tính bằng tỷ lệ giữa
Tylept

những người phụ thuộc (không tạo ra thu
nhập) so với tổng số thành viên đang sinh

-

sống trong hộ.
Tham gia THT, nhận giá trị 1 nếu hộ có
Thamgia

tham gia THT và nhận giá trị 0 nếu hộ

+

không tham gia THT.
Hotrovon

Hỗ trợ vốn, nhận giá trị 1 nếu có hỗ trợ và
nhận giá trị 0 nếu không được hỗ trợ.
Nguồn : Tổng hợp của tác giả

+

26

3.2.1. Biến phụ thuộc
Thu nhập xem là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được
trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người
ta thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập (Tổng
cục thống kê, 2011).
Thu nhập của hộ trong một năm là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy
thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận
được trong một một năm. Thu nhập của hộ bao gồm tiền công, tiền lương; lợi
nhuận từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; lợi nhuận từ sản xuất ngành nghề
phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm...
Thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng của hộ gia đình được tính
bằng cách lấy tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số thành viên của hộ
và chia cho 12 tháng.
Biến phụ thuộc thay đổi thu nhập (thaydoitn): có giá trị bằng 1 nếu thu
nhập năm 2015 của hộ gia đình tăng so với năm 2014, nhận giá trị bằng 0 nếu
thu nhập của hộ gia đình năm không tăng hoặc giảm so với năm 2014.
3.2.2. Các biến độc lập
Giới tính chủ hộ: là biến giả, nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam và nhận
giá trị 0 nếu chủ hộ là nữ. Chủ hộ ở đây được hiểu là người đứng tên chủ hộ
trong hộ khẩu của gia đình. Ở nông thôn, do tính chất lao động nông nghiệp,
phần lớn gia đình do nam giới là chủ hộ và luôn giữ vai trò trụ cột trong gia
đình. Chủ hộ thường có quyền quyết định có tham gia học nghề hay không.
Chính vì thế, giả định biến giới tính chủ hộ có ảnh hưởng tích cực đến thay đổi
thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình.
Tuổi chủ hộ: là số tuổi của chủ hộ tính đến thời điểm năm 2015. Chủ hộ
càng lớn tuổi sẽ có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, lao động, học tập và có
nhiều vốn tích lũy, cũng như tài sản. Do đó, giả định tuổi chủ hộ ảnh hưởng tích
cực đến thay đổi thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình.
Học vấn chủ hộ: là biến thể hiện số năm đi học của chủ hộ (năm). Nếu
không chủ hộ không đi học nhận giá trị 0; nếu chủ hộ học từ lớp 1 đến lớp 12

27

tương ứng được đánh số từ 1 đến 12; nếu chủ hộ học trung cấp nhận giá trị 13,
học cao đẳng, đại học nhận giá trị 14, học sau đại học nhận giá trị 15. Người có
trình độ học vấn thấp thường hạn chế về trình độ hiểu biết và khả năng tiếp thu
kiến thức chuyên môn kém hơn so với người có trình độ cao. Do đó, chủ
hộ có trình độ chuyên môn cao sẽ quan tâm đến học nghề nhiều hơn và có nhiều
giải pháp hơn trong việc cải thiện thu nhập của gia đình. Từ đó, giả định biến
học vấn chủ hộ có ảnh hưởng tích cực đến sự thay đổi thu nhập bình quân đầu
người của hộ gia đình.
Qui mô hộ: là biến thể hiện số người trong hộ (người); không tính
người làm thuê, ở nhờ. Các hộ gia đình nông thôn, phần lớn lao động sản xuất
lĩnh vực nông nghiệp, do vậy cần nhiều lao động để tham gia sản xuất. Tuy
nhiên, diện tích đất sản xuất của chủ hộ thường hạn chế, do vậy số lượng thành
viên trong hộ nhiều thường sẽ có xu hướng làm giảm thu nhập bình quân đầu
người trong hộ. Do đó, giả định biến qui mô hộ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự
thay đổi thu nhập bình quân của hộ gia đình nông thôn.
Tỷ lệ người phụ thuộc: biến này đo lường tỷ lệ phần trăm tổng số người
không nằm trong độ tuổi lao động (dưới 15 tuổi và trên 55 tuổi đối với nữ hoặc
trên 60 tuổi đối với nam) so với tổng số người của hộ. Hộ gia đình có tỷ lệ người
phụ thuộc cao, đồng nghĩa với việc hộ gia đình đó có ít lao động, dẫn đến có ít
người tạo ra thu nhập dẫn đến thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ thấp hơn
đối với hộ gia đình có tỷ lệ phụ thuộc ít. Vì thế, ta giả định biến tỷ lệ phụ thuộc
ảnh hưởng tiêu cực đến sự thay đổi thu nhập bình quân đầu người của hộ gia
đình nông thôn.
Tham gia THT: là biến giả, nhận giá trị 1 nếu hộ tham gia THT nông
nghiệp và nhận giá trị 0 nếu hộ không tham gia THT. Thực tế cho thấy, khi tham
gia THT theo mô hình nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, và phù hợp
với ngành nghề sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình. Mặt khác, do đầu ra sản
phẩm của các loại hình phi nông nghiệp gặp nhiều khó khăn và người dân chưa
quen với loại hình sản xuất này. Do đó, loại hình THT có ảnh hưởng cùng chiều
với thay đổi thu nhập của hộ gia đình.

28

Hỗ trợ vốn: là biến giả, nhận giá trị 1 nếu hộ được hỗ trợ nguồn vốn sản
xuất và nhận giá trị 0 nếu hộ không được hỗ trợ nguồn vốn sản xuất. Hỗ trợ vốn
được hiểu là khi hộ tham gia THT sẽ được ưu đãi về lãi suất tín dụng. Có được
nguồn vốn tín dụng, hộ gia đình có thể mở rộng hoặc đầu tư mới cho sản xuất
hoặc dùng để đầu tư cho việc làm mới, do đó sẽ làm tăng thu nhập của hộ. Vì
thế, giả định biến tiếp cận tín dụng ảnh hưởng tích cực đến sự thay đổi thu nhập
bình quân đầu người của hộ gia đình nông thôn.
3.3. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.3.1. Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến Luận văn;
từ các Báo cáo của UBND huyện Vĩnh Thuận các năm 2014, 2015; Báo cáo của
Phòng NN&PTNT huyện Vĩnh Thuận. Ngoài ra, dữ liệu thứ cấp được thu thập
qua sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Niên
giám thống kê tỉnh Kiên Giang năm 2015.
3.3.2. Dữ liệu sơ cấp
Theo Green (1991, trích dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2011) giới
thiệu một công thức kinh nghiệm thường dùng để xác định kích thước mẫu cho
hồi quy tuyến tính đa biến (hồi quy bội) như sau: n = 50 + 8p; trong đó, n là kích
thước mẫu tối thiểu cần thiết và p là số lượng biến độc lập trong mô hình.
Trong nghiên cứu này, có 8 biến độc lập, do đó kích thước mẫu tối thiểu
của mô hình nghiên cứu là n = 50 + 8 x 8 = 114 quan sát. Để dự phòng tác giả
chọn thêm 6 quan sát nữa, cỡ mẫu điều tra là 114 + 6 = 120 quan sát. Trong đó,
có 60 quan sát là hộ có tham gia THT, 60 hộ không có tham gia THT.
Tiến hành chọn mẫu bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Phỏng vấn
trực tiếp các hộ gia đình trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận. Những hộ không hợp
tác hoặc cung cấp sai thông tin thì chọn hộ khác thay thế, phỏng vấn cho đến khi
đủ số lượng 120 hộ gia đình thì dừng. Bảng câu hỏi phỏng vấn gồm 2 phần:
thông tin hộ gia đình và tham gia THT.

29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài. Đề xuất mô hình
nghiên cứu gồm 9 biến độc lập ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của hộ
tham gia mô hình THT gồm giới tính chủ hộ, tuổi chủ hộ, dân tộc chủ hộ, học
vấn chủ hộ, qui mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, loại hình THT, số năm tham gia, hỗ trợ
kỹ thuật, hỗ trợ vốn. Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát cho nghiên cứu định lượng
dựa trên các biến quan sát. Sử dụng phương pháp hồi quy Binary Logistic phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thay đổi thu nhập của hộ gia đình tham
gia THT trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận. Đây là những cơ sở cần thiết để tác giả
đánh giá, phân tích ở chương 4.

30

CHƯƠNG 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TỔ HỢP TÁC TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH THUẬN
4.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Vĩnh Thuận là huyện thuộc vùng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, cách
trung tâm thành phố Rạch Giá 75km đường bộ về hướng Tây Bắc và cách thành
phố Cà Mau 50km về hướng Tây Nam, tiềm năng kinh tế phát triển chủ yếu là
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Huyện có 07 xã và 01 thị trấn, địa hình
đồng bằng châu thổ, là vùng đất phèn nhiễm mặn, khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc
trưng với hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu vào khoảng tháng 4 và kết
thúc vào đầu tháng 10; tổng diện tích tự nhiên 39.473,79ha.

Hình 4.1: Bản đồ huyện Vĩnh Thuận
Nguồn: https://vinhthuan.kiengiang.gov.vn/Trang/trangchu.aspx