Tải bản đầy đủ
CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ

6

2.1.2. Thu nhập của hộ nông dân
Thu nhập là việc nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động
nào đó hay là các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định
thường tính theo tháng, năm. Thu nhập là phần nông hộ thu được sau quá trình
sản xuất, bao gồm nhiều nguồn thu khác nhau. Thu nhập của hộ nông dân cũng
được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho
thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có. Thu
nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ
thực hiện (Trần Văn Hiền, 2014).
Thu nhập của hộ nông dân có thể chia thành 3 loại gồm thu nhập nông
nghiệp, thu nhập phi nông nghiệp, thu nhập khác.
Thu nhập nông nghiệp: Thu nhập nông nghiệp bao gồm thu nhập từ các
hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng
thủy sản.
Thu nhập phi nông nghiệp: Thu nhập phi nông nghiệp là thu nhập được
tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao
gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí….
Ngoài ra, thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại
dịch vụ như buôn bán, thu gom.
Thu nhập khác: Là các nguồn thu từ các hoạt động làm thêm, làm thuê,
làm công ăn lương; từ các nguồn trợ cấp xã hội hoặc các nguồn thu bất thường
khác.
Thu nhập của hộ nông dân đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao
đời sống, nâng cao dân trí, quyết định đến quy mô sản xuất của nông hộ. Nó là
nguồn lực để chi tiêu cho mọi nhu cầu cần thiết trong đời sống hàng ngày của
mỗi nông hộ, mỗi người như lương thực thực phẩm, y tế, giáo dục. Mỗi thành
viên sẽ có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ giáo dục, các dịch vụ thông tin
truyền thông. Với những hộ nông dân có thu cập cao, các hộ sẽ có nhiều cơ hội
lựa chọn các loại hình sản xuất nông nghiệp, cũng như qui mô sản xuất của họ.

7

Ngoài ra, thu nhập là thước đo mức sống, khả năng sẵn sàng tiêu dùng của mỗi
hộ nông dân đối với kinh tế thị trường.
2.1.3. Kinh tế nông hộ
Theo Ellis (1988) thì kinh tế nông hộ khác với những người làm kinh tế
khác trong nền kinh tế thị trường ở 3 yếu tố: đất đai, lao động và vốn: Kinh tế
nông hộ là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền kinh tế xã hội. Các
nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn, lao động được góp chung, chung một
ngân sách, ở chung một mái nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh
doanh và đời sống đều do chủ hộ đưa ra.
Nền kinh tế nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ
các đặc điểm: Khả năng của nông dân thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn
giản nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất. Nhờ giá trị xã hội của
nông dân hướng vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất. Nhờ
việc chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại sự tập trung
ruộng đất vào tay một số ít nông dân. Khả năng của nông dân thắng được áp lực
của thị trường bằng cách tăng thời gian lao động vào sản xuất (khả năng tự bóc
lột sức lao động). Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do
có tính rủi ro cao và hiệu quả đầu tư thấp. Khả năng của nông dân kết hợp được
hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp để sử dụng hết lao động và tăng thu
nhập. Tuy vậy, ở tất cả các xã hội nền kinh tế nông dân phải tìm cách để tồn tại
trong các điều kiện rất khó khăn do áp lực của các chế độ hiện hành gây ra. Việc
huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích của toàn xã hội
thông qua địa tô, thuế và sự lệch lạc về giá cả. Các tiến bộ kỹ thuật làm giảm giá
trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giá thành và giá cả của
sản phẩm nông nghiệp. Vì vậy, nông dân chỉ còn có khả năng tái sản xuất đơn
giản nếu không có sự hỗ trợ từ bên ngoài. Mục tiêu sản xuất của hộ quyết định
sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh, quyết định mức độ đầu tư, phản ứng với giá
cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường (Trần Văn Hiền, 2014).

8

Như vậy, sản xuất của hộ nông dân tiến hoá từ tình trạng tự cấp sang sản
xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau. Trong quá trình tiến hóa ấy hộ nông dân
thay đổi mục tiêu và cách thức kinh doanh cũng như phản ứng với thị trường.
Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp có mục tiêu tối đa hoá lợi ích. Lợi ích ở đây
là sản phẩm cần để tiêu dùng trong gia đình. Người nông dân phải lao động để
sản xuất lượng sản phẩm cho đến lúc không đủ sức để sản. xuất nữa, do vậy
nông nhàn (thời gian không lao động) cũng được coi như một lợi ích. Nhân tố
ảnh hưởng nhất đến nhu cầu và khả năng lao động của hộ là cấu trúc dân số của
gia đình (Tỷ lệ giữa tay làm và miệng ăn).
Tiến lên một bước nữa, hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường, tuy
vậy mục tiêu chủ yếu vẫn là tự cấp. Đây là kiểu hộ nông dân “nửa tự cấp” có
tiếp xúc với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư. Hộ nông
dân thuộc kiểu này vẫn chưa phải một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn toàn
phụ thuộc vào thị trường. Các yếu tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết
định cách sản xuất của hộ. Vì vậy, trong điều kiện này nông dân có phản ứng
với giá cả, với thị trường chưa nhiều. Tuy vậy, thị trường ở nông thôn là những
thị trường chưa hoàn chỉnh, đó đây vẫn có những giới hạn nhất định.
Cuối cùng đến kiểu hộ nông dân sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Người
nông dân với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của gia
đình. Kiểu nông dân này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thị
trường vật tư, lao động và thị trường sản phẩm. Tuy vậy, giả thiết rằng Người
nông dân là người sản xuất có hiệu quả không được chứng minh trong nhiều
công trình nghiên cứu. Điều này, có thể giải thích do hộ nông dân thiếu trình độ
kỹ thuật và quản lý, do thiếu thông tin thị trường, do thị trường không hoàn
chỉnh. Đây là một vấn đề đang còn tranh luận. Vấn đề ở đây phụ thuộc vào trình
độ sản xuất hàng hoá, trình độ kinh doanh của nông dân.
2.2. LÝ THUYẾT VỀ TỔ HỢP TÁC
2.2.1. Tổ hợp tác
Hợp tác và liên kết trong sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân nhằm
nâng cao năng lực sản xuất và mua bán hàng hóa nông sản, tăng khả năng tiếp

9

cận thị trường là xu hướng tất yếu đã được khẳng định ở nhiều nước trên thế
giới. Chưa những có khái niệm cụ thể cho THT. Cơ sở để xác định tổ hợp tác
dựa vào Bộ luật dân sự năm 2015 và nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày
10/10/2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của THT.
Căn cứ vào điều 111 Bộ luật dân sự năm 2005, thì pháp luật quy định về
tổ hợp tác như sau: “Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có
chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên,
cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng
hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự”.
Theo đó, có thể hiểu THT là sự kết nhóm của từ 3 cá nhân trở lên, có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những
công việc nhất định, cùng hưởng lợi ích và cùng chịu trách nhiệm (BLDS Ðiều
111 khoản 1 và Ðiều 112). Trên thực tế, tổ hợp tác hình thành từ sự thoả thuận
giữa những người có cùng nghề nghiệp nông nghiệp hoặc thủ công nghiệp,
nhằm tập họp các nỗ lực của cá nhân, tạo thành nỗ lực chung để thực hiện các
hoạt động nghề nghiệp đó với hiệu quả cao hơn so với trường hợp cá nhân
hoạt động riêng lẻ. Có thể coi THT như là một nhân vật pháp lý nằm giữa pháp
nhân và nhóm thực tế trong lĩnh vực kinh tế.
2.2.2. Đặc điểm tổ hợp tác
Tổ hợp tác có những đặc điểm như sau:
Về hợp đồng hợp tác:
Đối với hợp đồng hợp tác có các nội dung chủ yếu sau đây:
- Mục đích, thời hạn hợp đồng hợp tác.
- Họ, tên, nơi cư trú của tổ trưởng và các tổ viên.
- Mức đóng góp tài sản, nếu có.
- Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ trưởng, của các tổ viên.
- Điều kiện nhận tổ viên mới và ra khỏi THT.
- Điều kiện chấm dứt THT.
- Các thỏa thuận khác.

10

Về tổ viên THT:
Tổ viên THT là các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ. Quyền và nghĩa vụ của tổ viên THT do các bên thỏa thuận hoặc do
quy định của pháp luật ( thỏa thuận không được trái pháp luật). THT có quyền
giao kết hợp đồng lao động với người không phải là tổ viên để thực hiện những
công việc nhất định.
Đại diện của THT trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên
cử ra. Tổ trưởng THT có thể ủy quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc
nhất định cần thiết cho tổ. Giao dịch dân sự do người đại diện của THT xác lập,
thực hiện vì mục đích hoạt động của THT theo quyết định của đa số tổ viên làm
phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả THT.
Về tài sản của THT:
Tài sản do các tổ viên đóng góp, cùng tạo lập và được tặng cho chung là
tài sản của THT. Các tổ viên quản lý và sử dụng tài sản của THT theo phương
thức thảo thuận. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải
được toàn thể tổ viên đồng ý; đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ
viên đồng ý.
Về chấm dứt THT:
Tổ hợp tác chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hợp tác.
- Mục đích của việc hợp tác đã đạt được.
- Các tổ viên thảo thuận chấm dứt THT.
Trong trường hợp chấm dứt, THT phải báo cáo cho Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn đã chứng thực hợp đồng hợp tác. THT chấm dứt theo quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong những trường hợp do pháp luật
quy định.
Khi chấm dứt, tổ hợp tác phải thanh toán các khoản nợ của tổ; nếu tài sản
của tổ không đủ để trả nợ thì phải lấy tài sản riêng của các tổ viên để thanh toán
theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự 2005. Trong trường hợp các
khoản nợ đã được thanh toán xong mà tài sản của tổ vẫn còn thì được chia cho

11

các tổ viên theo tỷ lệ tương ứng với phần đóng góp của mỗi người, trừ trường
hợp có thoả thuận khác.
2.2.3.Tổ viên tổ hợp tác
Theo quy định Điều 110 Bộ luật dân sự 2005 tổ viên của THT là “những
người cùng góp công sức trong việc tham gia sản xuất, kinh doanh, cùng hưởng
lợi và cùng chịu trách nhiệm”.
Khoản 1 Điều 7 Nghị định 151/2007 về điều kiện kết nạp tổ viên như sau:
“Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tự nguyện
tham gia và tán thành các nội dung của hợp đồng hợp tác đều có thể trở thành
tổ viên tổ hợp tác. Một cá nhân có thể là thành viên của nhiều tổ hợp tác. Hợp
đồng hợp tác có thể quy định thêm về các tiêu chuẩn khác đối với tổ viên tổ hợp
tác”.
Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành mới chỉ dừng lại quy định việc bầu, thay
đổi tổ trưởng phải thông báo với UBND cấp xã/phường nơi chứng thực hợp
đồng hợp tác. Đối với việc kết nạp mới, thay đổi, chấm dứt tổ viên thì vấn đề
thông báo không đặt ra. Điều này cho thấy sự chưa công khai tư cách thành
viên gây khó khăn trong việc xác định một cá nhân có phải là tổ viên của THT
trên thực tế.
Tổ viên tổ hợp tác có các quyền quy định tại Điều 116 BLDS năm
2005 và Điều 8 Nghị định 151/2007/NĐ-CP, đồng thời có các nghĩa vụ tại Điều
115 BLDS năm 2005 và Điều 9 Nghị định 151/2007/NĐ-CP.
2.2.4. Lợi ích khi tham gia tổ hợp tác
Tổ hợp tác là hình thức hợp tác đơn giản, có khả năng áp dụng rộng rãi,
liên kết những người dân có hoạt động sản xuất nhỏ lẻ, vốn ít, dễ bị thiệt thòi khi
tham gia thị trường, cùng thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm nâng
cao năng lực sản xuất và mua bán hàng hóa nông sản, tăng khả năng tiếp cận thị
trường, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn. Do đó, các tổ viên
tham gia tổ hợp tác hiện nay mới chỉ dừng lại trong việc tìm một “tổ chức” có tư
cách pháp lý để hội, họp trao đổi kinh nghiệm sản xuất, giúp đỡ nhau trong quá
trình sản xuất, kinh doanh giữa các tổ viên.

12

Lợi ích của việc tham gia THT bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội,
phát triển cộng đồng.
Lợi ích kinh tế: thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh, THT có
khả năng giảm chi phí do cùng mua chung vật tư, tăng khả năng tiếp cận và ứng
dụng các khoa học kỹ thuật và tiếp cận thị trường. THT còn làm các việc mà
từng thành viên riêng lẻ khó có thể thực hiện được như xây dựng và quàn lý hệ
thống tưới, tiêu nước, xây dựng đê bao chống lũ.
Lợi ích xã hội: thay vì hoạt động nhỏ lẻ dựa trên hộ gia đình, các THT
được hình thành từ nhóm thành viên thuộc các hộ khác nhau, dựa trên sự tin
tưởng và chia sẻ lợi ích trong công việc, tăng cường mối quan hệ hàng xóm,
cộng đồng.
Phát triển cộng đồng: ở nhiều vùng miền, các hàng hóa dịch vụ ít khi đáp
ứng được nhu cầu đa dạng của cộng đồng, nhất là các loại hàng hóa dịch vụ
công cộng. Các THT thuộc lĩnh vực này cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của
bản thân cộng đồn địa phương, từ đó cải thiện điều kiện sống của cả cộng đồng.
2.3. LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SẢN XUẤT
2.3.1.Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất
Trích theo Trần Thị Mộng Thúy (2016), hành vi ra quyết định của nông
sộ trong sản xuất được hiểu như sau:
Học thuyết này bắt nguồn từ lập luận người nông dân là một cá nhân
quyết định các vấn đề như: sử dụng bao nhiêu lao động cho một vụ sản xuất, có
nên sử dụng vật tư nông nghiệp cho sản xuất hay không, nên trồng loại cây
nào… Học thuyết này nhấn mạnh vào quan điểm là những người nông dân có
thể thay đổi mức độ và chủng loại của các vật tư và sản phẩm nông nghiệp.
Người ta thừa nhận ba mối quan hệ giữa nguồn lực và sản phẩm nông
nghiệp và ba mối quan hệ này cũng phù hợp với ba giai đoạn xây dựng học
thuyết về xí nghiệp sản xuất nông nghiệp. Ba mối quan hệ đó là:
(1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của
nguồn lực sử dụng trong sản xuất. Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ yếu tố sản phẩm hay là mối quan hệ giữa nguồn lực - sản lượng (input và output).

13

(2) Thay đổi sự kết hợp của hai hay nhiều loại nguồn lực khác nhau để sản
xuất ra một sản lượng nhất định (như sự kết hợp giữa đất đai và lao động theo
các cơ cấu khác nhau để tạo ra một sản lượng lúa như nhau).
(3) Sản lượng hoặc sản phẩm khác nhau có thể thu được từ một tập hợp
các nguồn tài nguyên (như các mức sản lượng sắn hoặc đậu khác nhau có thể thu
được trên cùng một đơn vị diện tích). Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ sản
phẩm - sản phẩm.
Học thuyết cơ bản của nền sản xuất nông dân bao gồm hàng loạt các mục
đích có thể đạt được và một số hạn chế như không đề cập đến phương tiện tiêu
dùng của gia đình nông dân. Tìm hiểu một mục đích duy nhất có thể đạt được tối
đa hóa lợi nhuận trong thời gian ngắn hạn. Chỉ có nông dân là người duy nhất
được phép ra quyết định trong nền sản xuất của nông dân. Những giả định khác
bao gồm sự cạnh tranh trên các thị trường về sản phẩm, vật tư nông nghiệp và
vấn đề mua vật tư phục vụ sản xuất.
2.3.2. Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất.
Trích theo Trần Thị Mộng Thúy (2016), hành vi tối đa hóa sản lượng và
hàm sản xuất được hiểu như sau:
Hàm sản xuất xác định mối quan hệ vật chất giữa sản lượng Y và bất kỳ
nguồn lực nông nghiệp (đầu tư cho sản xuất) (x1 , x2 ,..., xn ) . Hàm sản xuất có dạng
tổng quát:
Y = f (x1 , x2 ,..., xn )

(2.1)

Đặc biệt, điều liên quan là chỉ với một hoặc nhiều biến số nguồn lực (đầu
vào), còn các đầu tư khác và tình trạng công nghệ là bất biến, được viết như sau:
Y = f (x1 , x2 ,..., xm / xn−m )

(2.2)

Với (x1 , x2 ,..., xm ) là các biến số nguồn lực (đầu vào). Phương trình chính
xác của hàm sản xuất phụ thuộc vào sự phản ứng của sản lượng đối với nguồn
lực dưới dạng nghiên cứu và mức độ trừu tượng qua thực tiễn sản xuất. Tuy
nhiên, tất cả các hàm sản xuất phải thỏa mãn hai điều kiện để đảm bảo ý nghĩa
kinh tế: sản phẩm tới hạn phải là dương và phải giảm dần. Để thỏa mãn được

14

các điều kiện này thì đạo hàm thứ nhất phải là dương và (dY / dX ) > 0 và đạo hàm
cấp hai phải là âm (dY 2 / dX 2 ) < 0 có nghĩa là sự phản ứng của sản lượng đối với
các mức độ gia tăng chi phí các nguồn lực phải được tăng lên, song mức tăng
phải giảm dần (trích Trần Thị Mộng Thúy, 2016).
2.3.3. Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí
Trích Trần Thị Mỹ Dung (2015), hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi
phí được thể hiện như sau:
Mức độ hiệu quả nhất của một biến chi phí đầu tư phụ thuộc vào mối
quan hệ giữa giá cả của các loại nguồn lực đó và giá sản phẩm. Mức độ kinh tế
tối ưu của việc chi phí nguồn lực đạt được khi giá trị sản phẩm biên tế của
nguồn lực bằng giá của nguồn lực đó Mức tối ưu của một nguồn lực đơn có thể
được biểu thị bằng một vài phương pháp khác nhau:
P X = giá của từng đơn vị nguồn lực X (tức là MFC)
P Y = giá của từng đơn vị sản lượng Y
MVP: giá trị biên tế của sản phẩm
MPP: sản phẩm hiện vật tới hạn
Vậy MVP X = MPP X * P Y có nghĩa là giá trị sản phẩm biến tế của nguồn
lực bằng sản phẩm tới hạn nhân với giá sản phẩm. Vì vậy, có 3 cách để xác định
điểm tối ưu:
- Điểm tối ưu kinh tế sẽ đạt được khi mức tiền lãi tăng thêm bằng chi phí
tăng thêm MVP X = P X . Nếu MVP X > P X thì nông dân sử dụng quá ít nguồn lực
và nếu Nếu MVP X < P X thì lại chứng tỏ nông dân sử dụng quá nhiều nguồn lực.
- Điểm tối ưu cũng có thể biểu thị bằng MVP X /P X = 1 là tỷ lệ của giá trị
biên tế của sản phẩm đối với giá vật tư bằng 1. Các dạng biểu thị điều kiện tối
ưu này thường được dùng trong các tạp chí liên quan tới nghiên cứu về hiệu quả
kinh tế của người nông dân và vấn đề nêu lên là tỷ lệ này có thể là một con số
khác 1 được không và nếu vậy thì theo hướng nào. Trả lời cho vấn đề này là nếu
tỷ lệ đó lớn hơn 1 tức là MVP X /P X > 1 thì không đạt tối ưu người nông dân sử
dụng quá ít nguồn lực còn nếu MVP X /P X < 1 cũng không được vì tỷ lệ này biểu
thị người nông dân dùng quá nhiều nguồn lực.

15

- Vì MVP X = MP X * P Y nên điều kiện tối ưu cũng có thể được biểu thị
bằng MPP X = P X /P Y . Sản phẩm tới hạn bằng tỷ lệ nghịch đảo của giá cả (yếu tố
- sản phẩm).
Sự kết hợp tối ưu của các nguồn lực trong khía cạnh kinh tế được xác
định bởi tỷ giá của chúng. Các mức giá của các nguồn lực khác nhau xác định
khối lượng mỗi loại nguồn lực cần mua với tổng chi phí nhất định cho sản xuất.
Cách phối hợp hiệu quả nhất các nguồn lực là sử dụng nguồn lực ít nhất với các
mức giá khác nhau cho một sản phẩm xác định. Nói cách khác, ở đây vấn đề tối
ưu hóa được xem như vấn đề tối thiểu hóa chi phí chứ không phải là tối đa hóa
lợi nhuận.
Đối với mỗi sản lượng nhất định, sự kết hợp chi phí ít nhất của các vật tư
xảy ra tại điểm tiếp tuyến giữa đường đồng mức sản lượng và đường đồng mức
chi phí để tạo thành một đường tiếp tuyến. Bất kỳ một điểm khác nào nằm ở bên
trái hoặc bên phải của điểm đó trên đường đồng mức sản lượng sẽ nằm trên
đường đồng mức chi phí tiếp tuyến với các đường đồng mức sản lượng này. Tại
bất kỳ điểm nào của đường tiếp tuyến, độ nghiêng của hai đường cong là bằng
nhau. Tỷ lệ thay thế tới hạn bằng tỷ lệ nghịch của giá các nguồn lực.
Như trong trường hợp điểm tối ưu của hàm sản xuất, một số công thức
toán học đơn giản đã giúp chúng ta tìm hiểu hàm ý của kết luận này. Trước hết,
ở đây chúng ta xem xét một hàm sản xuất có hai biến nguồn lực có công thức
chung:
Y = f(X1/ X2)
Từng vật tư trong hàm sản xuất được gắn với sản phẩm vật chất riêng của
nó. Vì vậy chúng ta có:
MPP1 = dY/dX1 và MPP2 = dY/DX2
Công thức trên tạo ra tỷ lệ nghịch của các sản phẩm vật chất giới hạn
bằng với tỷ lệ thay thế giới hạn:
MPP1/ MPP2 = P1/P2, hoặc bằng cách nhân chéo MPP1/P1 = MPP2/P2
Nói cách khác, tối ưu, chi phí ít nhất, sự kết hợp của các nguồn lực xảy ra
khi các tỷ lệ của sản phẩm tới hạn đối với chi phí của từng đơn vị nguồn lực đều

16

giống nhau đối với tất cả các loại nguồn lực. Điều này cũng có nghĩa là khi nói
rằng MPP trên một đô la chi phí bằng tổng tất cả các nguồn lực, và nếu có sự
thay đổi trong công nghệ sản xuất (thay đổi vị trí và hình dạng các đường đồng
mức sản lượng) hoặc nếu có sự thay đổi tỷ lệ giá của các yếu tố thì sự kết hợp
chi phí ít nhất của các nguồn lực cũng thay đổi.
2.3.4. Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận
Trích Trần Thị Mỹ Dung (2015):
Giả thuyết người nông dân hiệu quả thường gắn với với việc nông hộ đẩy
mạnh tối đa hóa lợi nhuận. Hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận là hai mặt của một
vấn đề. Một định nghĩa chính xác về hiệu quả kinh tế cũng cần phải kể đến một
thị trường cạnh tranh, vì vậy cũng không có một đơn vị (hoặc một ngành sản
xuất) cá thể nào có thể đạt được hiệu quả nếu như những người sản xuất phải
đương đầu với các giá cả khác nhau hoặc nếu một số tác nhân kinh tế này có thể
làm ảnh hưởng giá cả và thu nhập của các tác nhân kinh tế khác.
Giả thuyết tối đa hóa lợi nhuận không yêu cầu phải có lợi nhuận bằng một
khoản tiền. Điều mà giả thuyết yêu cầu là phải điều chỉnh đầu vào hoặc đầu ra
của sản xuất sao cho các nông hộ đạt một khoản thu nhập ròng cao hơn dù bằng
tiền mặt hay bằng hiện vật và điều này được áp dụng như nhau đối với các hộ
gia đình nghèo cũng như khá giả. Đối với việc điều tra thực tế thì nguồn lực và
sản phẩm phải được ấn định theo giá thị trường và các giá ấn định này là đặc
trưng cho các điều kiện của thị trường cạnh tranh.
Theo quan điểm tân cổ điển đúng đắn, thậm chí nếu bản chất của nền kinh
tế nông dân hạn chế việc đạt hiệu quả thì điều đó không có nghĩa là trong điều
kiện có nhiều mục tiêu và hạn chế đối với hộ gia đình nông dân lại không có
được một tính toán kinh tế. Thực sự, sự tính toán như vậy thực sự là tiền đề của
hầu hết các chính sách nông nghiệp ở các nước chậm phát triển. Vì thế, tối đa
hóa lợi nhuận từng phần hay tối đa hóa có giới hạn vẫn có thể xảy ra cả khi nền
kinh tế thực sự không có hiệu quả.
Giả thuyết về người nông dân hiệu quả theo nghĩa tân cổ điển về tối đa
hóa lợi nhuận không đơn thuần được chứng minh là các giả thuyết chung, cũng