Tải bản đầy đủ
Những nội dung kiến thức trong bài học có liên quan đến vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên

Những nội dung kiến thức trong bài học có liên quan đến vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên

Tải bản đầy đủ

Lưu ý: Ở tuổi dậy thì không phải tất cả các em cùng tuổi hoặc cùng giới
đều phát triển như nhau. Có em có một số biểu hiện thay đổi sớm hơn một số em
khác và một số biểu hiện thay đổi chậm hơn các bạn cùng trang lứa.
1.1.2. Những thay đổi tâm lý, tình cảm
- Ở tuổi VTN nhóm sớm (10 - 13 tuổi): về mặt tâm lý và tình cảm, các em bắt
đầu có tư duy trìu tượng; các em ý thức được mình không còn là trẻ con nữa. Trong
hành động, các em muốn thử sức mình và muốn khám phá những điều mới lạ. Các
em thường quan tâm, đến những thay đổi của cơ thể, nhất là các em gái dễ băn
khoăn, lo lắng, buồn rầu về những nhược điểm ở cơ thể mình khi so sánh với các
bạn cùng lứa. Các em cũng bắt đầu quan tâm đến bè bạn, muốn tách khỏi sự bảo hộ
của bố mẹ, tuy nhiên các em vẫn còn quá trẻ, chưa có kinh nghiệm và vẫn phụ
thuộc vào bố mẹ và gia đình.
- Ở tuổi VTN nhóm giữa (14 -16 tuổi): các em phát triển mạnh tính độc lập,
muốn tách khỏi sự quản lý, kiểm soát của gia đình, phát triển mạnh cá tính và
muốn tìm kiếm những mối quan hệ bạn bè cùng lứa. Nhu cầu về tình bạn trở nên
quan trọng và dễ chịu ảnh hưởng (tốt cũng như xấu) của nhóm bạn đó; đặc biệt chú
ý đến người bạn khác giới và dễ nhầm lẫn tình bạn với tình yêu. Các em tiếp tục
phát triển mạnh về tư duy trìu tượng, tuy vậy các em lại thường thay đổi tình cảm
một cách dễ dàng, khi vui, khi buồn kiểu "sớm nắng chiều mưa". Khi mong muốn
điều gì, các em muốn được thoả mãn nhu cầu ngay và có thể hành động bất chấp
hậu quả, trong khi về mặt tư duy các em chưa phát triển đấy đủ khả năng tự phê
phán. Cũng ở nhóm tuổi này các em thường muốn tìm hiểu về khả năng hoạt động
tình dục của mình.
- Ở tuổi VTN nhóm muộn (17 - 19 tuổi): cơ thể và chức năng sinh lý của các
bộ phận trong cơ thể các em đã gần như hoàn chỉnh.Về mặt tâm lý, tình cảm đã có
cách suy nghĩ, ứng xử khá chín chắn giống như người trưởng thành. Có suy nghĩ
kế hoạch cho tương lai, về sự lựa chọn nghề nghiệp một cách thực tế hơn, ảnh
hưởng của nhóm bạn bè giảm bớt, thường kén chọn bạn thích hợp với mình (bạn
tâm giao). Tình yêu ở nhóm tuổi này thực tế hơn, đã phân biệt tình bạn và tình yêu
chứ không còn mơ hồ như những năm trước đó.
1.2. Giáo dục giới tính
1.2.1. Giới tính
Giới là thuật ngữ chung. Giới hay phái là một khái niệm rộng, trước hết để chỉ
một cơ thể thuộc giống đực hay giống cái (ngoại hình, nhiễm sắc thể...) với những
đặc tính bẩm sinh và không thay đổi. Sự khác biệt giữa hai giới tính là do di truyền
tự nhiên (cấu tạo cơ thể, thể chất, sinh lý…).
Giới tính là một tập hợp những đặc điểm riêng biệt, tạo nên sự khác nhau
giữa nam và nữ, ví dụ: đàn ông thường to khoẻ, bộc trực, cứng rắn, trong khi phụ
nữ thường nhỏ yếu, kín đáo, dịu dàng.
Giới tính bao gồm cả những trải nghiệm, là các hoạt động, quan hệ, sở thích
riêng, là làm thế nào để ta chính là ta và cơ thể của ta.
Giới tính hình thành từ 2 nguồn gốc:

Trang 6

- Nguồn gốc thứ nhất là Sinh học: Nhiễm sắc thể giới tính quy định giới
tính nam hay nữ: nam có cặp nhiễm sắc thể XY, nữ là cặp nhiễm sắc thể XX. Cấu
tạo cơ thể, nội tiết, tâm sinh lý cũng bắt nguồn từ cặp nhiễm sắc thể giới tính.
- Nguồn gốc thứ hai là từ xã hội: Tình cảm, ý thức được hình thành qua
giao tiếp dưới ảnh hưởng của giáo dục xã hội. Có người đàn ông nhưng tính đàn bà
và ngược lại. Mỗi xã hội có sự phân công lao động riêng, có quan niệm về giới tính
theo những chuẩn mực đạo đức và văn hoá nhất định.
Như vậy giới tính là hành vi, tâm lý, đạo đức theo kiểu nam hoặc nữ, chịu
ảnh hưởng của xã hội hay một nền văn hoá nào đó, vì vậy nó thay đổi theo thời đại.
Giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu
sinh dục, sinh sản, quan hệ tình dục, sức khoẻ sinh sản, các quan hệ tình cảm,
quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai, và các khía cạnh khác của thái độ
tình dục loài người. Những cách giáo dục giới tính thông thường là thông qua cha
mẹ, người chăm sóc, các chương trình trong trường học và các chiến dịch sức khoẻ
cộng đồng.
1.2.2. Giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính có thể được hiểu là “giáo dục tình dục”, nghĩa là bao gồm
việc giáo dục về mọi khía cạnh của hoạt động tình dục, gồm cả thông tin về kế
hoạch hoá gia đình, sinh sản (khả năng sinh sản, tránh thai, sự phát triển của phôi
thai và thai nhi, sinh đẻ), cộng thêm thông tin về mọi khía cạnh đời sống tình dục
của một cá nhân gồm: hình ảnh thân thể, khuynh hướng tình dục, cảm xúc tình
dục, các giá trị, đưa ra quyết định, thông tin, hẹn hò, các quan hệ, các bệnh lây
truyền qua đường tình dục, làm thế nào để tránh chúng và các biện pháp kiểm soát
sinh sản.
Giáo dục giới tính có thể được dạy một cách không chính thức, như khi một ai
đó nhận được thông tin từ một cuộc trò chuyện với cha mẹ, bạn bè, người lãnh đạo
tôn giáo hay qua truyền thông. Giáo dục giới tính cũng có thể được truyền dạy qua
các tác gia với các tác phẩm về giới tính, chuyên mục báo chí hay qua các trang
web về giáo dục giới tính. Giáo dục giới tính chính thức diễn ra khi các trường học
hay người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thực hiện điều này.
Đôi khi giáo dục giới tính chính thức được dạy dưới dạng một chương trình
đầy đủ như một phần của chương trình học tại các trường trung học hay trung học
cơ sở. Ở những trường hợp khác nó chỉ là một bài học bên trong một lớp học rộng
hơn về sinh học, sức khoẻ, kinh tế gia đình, hay giáo dục thể chất…
Giáo dục giới tính tốt tạo điều kiện cho sự phát triển hài hòa của thế hệ trẻ,
cho sự hình thành đầy đủ giá trị chức năng sinh sản, cho việc nâng cao kiến thức
về tình dục học, góp phần củng cố hôn nhân và gia đình.
Giáo dục giới tính là vấn đề phức tạp và tế nhị, phải thích hợp với lứa tuổi.
Đặc biệt ở tuổi dậy thì, nó giúp các em điều khiển có ý thức các vấn đề tình dục, ở
tuổi thanh niên, giúp cho mọi người kiến tạo được gia đình hôn nhân hạnh phúc,
lành mạnh, thích hợp với xã hội mà mình đang sống.
1.3. Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
Trang 7

- “Sức khỏe sinh sản (SKSS) là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và
hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong
suốt các giai đoạn của cuộc đời. Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp,
kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông
qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS. Điều này
cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống
và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y
tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua
đường tình dục”.
- “Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ
nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng
chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS. Điều này cũng bao gồm cả
sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ
giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một
cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục”.
2. Một số giải pháp để lồng ghép tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên vào nội dung bài 38, 39 sách giáo khoa sinh học lớp 11 cơ bản: “Các
nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật”
Tên
bài
Bài 38
Các
nhân tố
ảnh
hưởng
đến
sinh
trưởng
và phát
triển ở
động
vật

Địa chỉ
tích hợp

Nội dung giáo dục SKSS VTN

Kiểu
tích hợp

I.Các nhân - Dậy thì và các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến - Lồng
tố
bên SKSS
ghép
trong
- Ảnh hưởng của các hoocmon giới tính đến tuổi
1.Các hooc dậy thì.
môn
ảnh - Cung cấp kiến thức về các hoocmon điều hòa
hưởng đến sự phát triển ở người qua đó nhấn mạnh cho học
sinh trưởng sinh thấy được sự thay đổi của cơ thể khi bước

phát vào tuổi dậy thì.
triển
của
động vật có - Đặc biệt lưu ý về hiện tượng kinh nguyệt ở nữ
xương sống để qua đó giáo dục các em có hiểu biết đúng đắn
về hiện tượng này, cách giữ gìn vệ sinh, chế độ
ăn uống hợp lý để bảo vệ sức khỏe cho hiện tại
và cả sức khỏe sinh sản sau này.

Bài 39

II.
Các - Cung cấp kiến thức về ảnh hưởng của thức ăn - Lồng
nhân tố bên và các nhân tố từ môi trường lên sinh trưởng và ghép
Các
phát triển của con người để giáo dục ý thức
nhân tố ngoài
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe qua đó bảo vệ
ảnh
SKSS.
hưởng
đến
- Ảnh hưởng của nhân tố thức ăn, các yếu tố
sinh
môi trường như ánh sáng, nhiệt độ, chất thải,
trưởng
chất độc hại lên sinh trưởng và phát triển ở
và phát
người.
triển ở
Trang 8

động
vật
(TT)

- Cải thiện chất lượng dân số và kế hoạch hóa
gia đình.
- Giới thiệu các biện pháp để cải thiện chất
lượng dân số như nâng cao đời sống, cải thiện
chế độ dinh dưỡng, tư vấn di truyền, chẩn đoán
sớm các đột biến trong phát triển phôi thai, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường,… đặc biệt nhấn
mạnh tác hại của ma túy, thuốc lá, bia, rượu đến
sức khỏe và sức khỏe sinh sản sau này.
- Cung cấp đầy đủ kiến thức về các biện pháp
phòng tránh thai để các em có ý thức và cách
phòng tránh các bệnh lây lan qua đường tình
dục và việc mang thai ngoài ý muốn; biết cách
để kế hoạch hóa khi lập gia đình sau này.

3. Ví dụ về thiết kế bài giảng “Tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên”
3.1. Tiết 39; BÀI 38. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN Ở ĐỘNG VẬT
I. MỤC TIÊU: Qua bài học, học sinh có khả năng:
1. Kiến thức
- Nêu được vai trò của nhân tố di truyền đối với sự sinh trưởng và phát triển của
động vật.
- Nêu được tên hoocmon và vai trò của hoocmon đó đối với sự sinh trưởng và
phát triển ở động vật có xương sống và không có xương sống.
- Nêu được nguyên nhân gây ra một số bệnh do rối loạn nội tiết ở người.
2. Kĩ năng:
- Quan sát tranh hình xử lý thông tin.
- Lập bảng, so sánh, khái quát kiến thức.
- Hoạt động nhóm.
3. Thái độ:
- Có ý thức bảo vệ sức khỏe bằng cách ăn đầy đủ, cân bằng các loại thức ăn đồng thời
biết bảo vệ môi trường sống để cơ thể có thể sinh trưởng và phát triển bình thường.
II. KĨ NĂNG SỐNG ĐƯỢC GIÁO DỤC TRONG BÀI
- Kĩ năng thể hiện sự tự tin khi trình bày ý kiến trước nhóm, tổ, lớp.
- Kĩ năng lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ, ý tưởng.
- Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin về các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến
sinh trưởng và phát triển ở động vật.
- Kĩ năng quản lí thời gian, đảm nhận trách nhiệm, hợp tác trong hoạt động
nhóm.
Trang 9