Tải bản đầy đủ
Giải pháp chi tiêu công ở Việt Nam

Giải pháp chi tiêu công ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

trung nhiều hơn vào việc hoạch định chính sách và các chức năng quản lý nhà nước. Do đó,
việc tăng cường phân cấp ngân sách cho cấp dưới sẽ tạo điều kiện cho các cấp này thực hiện
chức năng cung ứng dịch vụ công tốt hơn. Các dịch vụ công do cấp chính quyền càng gần dân
cung ứng thì càng có điều kiện sát hợp hơn với nhu cầu của người dân, đồng thời do cấp chính
quyền này nắm vững hơn về dân cư trên địa bàn nên sẽ tăng khả năng phục vụ đúng các đối
tượng mà nhà nước quan tâm, đặc biệt là người nghèo.
Chính quyền cấp dưới chỉ có thể chủ động cung ứng dịch vụ công cần thiết ở địa
phương khi có nguồn thu xác định, đầy đủ và ổn định, đồng thời được giao các nhiệm vụ chi rõ
ràng và phù hợp. Mặc dù cơ chế phân cấp hiện nay thực hiện theo mô hình tập trung quyền lực
ở trung ương và bảo đảm sự điều hoà của trung ương cho các tỉnh, song việc tập trung quá mức
các nguồn thu ở trung ương sẽ dẫn đến chỗ hình thành một cơ chế chuyển giao phức tạp và dễ
bị yếu tố chủ quan làm cho sai lệch. Cần bảo đảm để địa phương có đủ nguồn để trang trải
khoảng 2/3 nhiệm vụ chi tiêu của địa phương, còn 1/3 còn lại là dựa vào sự điều tiết và chuyển
giao của trung ương.
Cần thống nhất về nguyên tắc trong phương thức phân bổ ngân sách ở các tỉnh.Luật
ngân sách nhà nước năm 2002 đã trao cho các tỉnh thẩm quyền tương đối rộng trong phân bổ
ngân sách cho các cấp thấp hơn. Điều đó cho thấy, khi tính công bằng trong phân bổ ngân sách
giữa các tỉnh được cải thiện, cũng chưa bảo đảm rằng sẽ khắc phục được tình trạng phân bổ
không đồng đều giữa các cấp tỉnh, huyện và xã nếu cấp tỉnh không chú trọng đến tính công
bằng trong phân bổ nguồn lực. Vì vậy, ngay tại từng tỉnh cũng cần có cơ chế phân cấp hợp lý
giữa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, sao cho các cấp cơ sở có điều kiện đáp ứng tốt nhất dịch vụ
công cho các đối tượng dân cư trên địa bàn và chú trọng đến người nghèo.
3. Cải tiến cách thức phân bổ ngân sách để khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa các
khu vực về các dịch vụ công thiết yếu. Theo đó, khu vực nào có tiềm năng lớn hơn sẽ có điều
kiện chi tiêu nhiều hơn, trong khi đó những vùng nghèo khó do thiếu kinh phí nên thường có
xu hướng cắt giảm các chi tiêu về dịch vụ công để đảm bảo kinh phí cho các hoạt động thiết
yếu khác của bộ máy.

26

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Vì vậy, cần tính đến mức thu nhập bình quân đầu người của các địa phương trong việc
phân bổ NSNN, kể cả chi đầu tư và chi thường xuyên. Việc phân bổ ngân sách hiện chưa tính
đầy đủ đến yếu tố mức thu nhập của dân cư. Chính mức thu nhập của dân cư tác động rõ nét
đến quy mô chi tiêu công của tỉnh đó.Khi kinh phí từ NSNN còn hạn hẹp thì chính sự đóng
góp của dân cư sẽ giúp chính quyền nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ công ở địa
phương mình. Nếu không tính đến yếu tố này thì sự phân bổ ngân sách của Chính phủ mới chỉ
mang tính phiến diện và bất bình đẳng về tài chính giữa các địa phương sẽ ngày càng rộng.
4. Tăng cường hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo. Cách thức này tránh được những rủi ro
do cơ sở cung ứng không chi cho đúng đối tượng được ưu đãi và sự lạm dụng nguồn lực để
mưu lợi riêng.
Nhà nước cần tiếp tục dành một nguồn kinh phí thoả đáng để hỗ trợ học sinh nghèo
thông qua chính sách miễn giảm học phí. Số kinh phí này nên phân bổ cho các địa phương căn
cứ vào số lượng học sinh, sinh viên và mức độ khó khăn của từng vùng. Hội đồng nhân dân
(HĐND) các cấp quyết định phân bổ quỹ này cho các địa phương cấp dưới trực tiếp.HĐND
cấp cơ sở xem xét, quyết định danh sách học sinh, sinh viên trong xã, phường được cấp học
bổng dưới hình thức phiếu thanh toán chỉ có giá trị trả học phí. Việc sử dụng quỹ khuyến học ở
các cấp phải được công khai hoá cho nhân dân địa phương biết để giám sát và kiểm tra thực
hiện.
Để tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận nhiều hơn đến dịch vụ khám chữa
bệnh, Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ chi phí y tế cho người nghèo và cận nghèo bằng cách
cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và hỗ trợ một phần cho người cận nghèo, đồng thời có
cơ chế hỗ trợ tiền ăn ở, đi lại cho người nghèo khi họ phải điều trị nội trú tại các bệnh viện. Mở
rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế để chia sẻ rủi ro cho các đối tượng thiệt thòi trong xã hội, đặc
biệt là người nghèo.
Nâng cao hiệu quả của các chương trình chi tiêu nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo.
Cần tăng mức cấp vốn từ ngân sách trung ương cho các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm
giảm đói nghèo, bởi vì số kinh phí hiện tại còn nhỏ bé để tạo ra sự thay đổi cơ bản về cơ sở hạ
tầng, việc làm và bảo đảm các dịch vụ công quan trọng khác.
27

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

5. Việc xây dựng các chương trình trợ cấp cần có sự định hướng vừa theo vùng địa lý,
vừa theo loại hàng hoá. Định hướng theo vùng địa lý sẽ bảo đảm chương trình trợ cấp đến với
các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa là nơi có nhiều người nghèo sinh sống. Định hướng
theo loại hàng hoá sẽ giúp cho các chương trình trợ cấp đưa được những loại hàng hoá, dịch vụ
mà người nghèo sử dụng nhiều hơn các nhóm dân cư khác đến được với họ.
Các chương trình cần tập trung hơn nữa vào đối tượng nghèo nhất thông qua việc tăng
định mức phân bổ ngân sách cho các vùng nghèo đói và bảo đảm phân bổ đúng cho các đối
tượng nghèo. Việc xây dựng năng lực cho các hộ nghèo để họ có thể tham gia vào quá trình
thực thi và giám sát các chương trình mục tiêu quốc gia nói trên là một đòi hỏi quan trọng để
nâng cao hiệu quả của các chương trình. Ngoài ra, các vấn đề nghiệp vụ trong quản lý tài chính
các chương trình phải được quan tâm đầy đủ hơn, chẳng hạn như phải cải tiến quy chế điều
hành và các thủ tục quản lý tài chính hợp lý hơn, bảo đảm thời hạn cấp phát kinh phí phù hợp
với tiến độ công việc...
Tóm lại, giảm nghèo không chỉ là thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng mạnh, mà cần có sự
can thiệp của Chính phủ như một tác nhân chủ yếu tác động trực tiếp đến giảm nghèo, trong đó
cải cách chi tiêu công của Chính phủ theo hướng tập trung nhiều hơn vào người nghèo là một
công cụ hữu hiệu và có tác động trực tiếp tới mục tiêu nói trên.

28

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. http://www.data.worldbank.org/
2. http://www.gopfp.gov.vn/
3. http://www.gso.gov.vn
4. http://elibrary.imf.org/page/imf-data

5.The Relationship between Government Expenditure and Poverty:
A Cointegration Analysis
By Romanian Journal of Fiscal Policy
Volume 1, Issue 1, July-December 2010, Pages 29-37
6. http://www.developmentprogress.org/resources
7. Pucblic spending for poverty reduction
by A. Fozzard, M. Holmes, J. Klugman, K. Withers
8. Tiểu luận: thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và giải pháp.
9. Nghèo đói Việt Nam nhìn qua những con số
Tác giả: Lâm Văn Bé
10. Các bài phân tích trên Tổng cục thống kê Việt Nam
11. Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

29