Tải bản đầy đủ
Dữ liệu và bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam

Dữ liệu và bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Tuy đã cố gắng vận dụng thật sâu sắc nhất bài nghiên cứu gốc vào trường hợp Việt Nam,
nhưng nhóm gặp phải một số vấn đề, và quyết định có một số thay đổi trong mô hình. Vì một
số hạn chế trong việc thu thập dữ liệu tại Việt Nam, nhóm chỉ thu thập được ba chuỗi dữ liệu tỷ
lệ nghèo, đầu tư tư nhân, và kiều hối với 15 quan sát từ năm 1998 đến năm 2012, còn biến tỷ lệ
học sinh trung học cơ sở nhóm chỉ tìm được từ 2003 đến 2012. Thứ nhất, bởi vì nếu chạy mô
hình với số lượng quan sát ngắn thì kết quả sẽ không chính xác nên nhóm quyết định loại biến
tỷ lệ học sinh trung học cơ sở ra khỏi mô hình ban đầu. Do vậy mô hình còn 3 biến: tỷ lệ
nghèo, tỷ lệ đầu tư tư nhân, và kiều hối. Thứ hai, cũng vì lí do trên nên nhóm sẽ chạy mô hình
hồi quy tuyến tính cổ điển OLS để xem xét tác động của các biến lẫn nhau như thế nào.
Bảng : Nguồn thu thập dữ liệu:
Biến
POV_Tỷ lệ nghèo
GE_Chi tiêu công
REM_kiều hối


Đơn vị tính
% tổng dân
số
%GDP
LOG

Thời gian
1998:2012

Nguồn
WB

1998:2012
1998:2012

GSO
MOFA

Ước lượng tham số và lựa chọn mô hình

Ký hiệu các biến tương tự trong bài nghiên cứu gốc, chúng ta có phương trình (1):

20

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Từ bảng kết quả trên, chúng ta có thể thấy với ý nghĩa 5%, cả ba biến có tác động một cách có
ý nghĩa thống kê lên biến POV và R2 = 0.61 chứng tỏ POV được giải thích chỉ một phần bởi ba
biến khác trong mô hình. Vậy liệu còn có những yếu tố nào giải thích được cho POV.Nhóm
tiến hành thêm lần lượt hai biến khác vào mô hình để xem thử liệu chúng có thể giải thích
được cho POV nhiều hơn không. Biến đầu tiên thêm vào đó là thời gian, ý nghĩa của việc thêm
thời gian vào mô hình là để nắm bắt được chiều hướng phát triển của các biến, rõ ràng theo
thời gian tỷ lệ nghèo sẽ giảm đi. Nhóm xây dựng phương trình (2):
Kết quả ước lượng PT(2):

21

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Sau khi ước lượng PT(2) nhóm tiếp tục đưa vào mô hình yếu tố độ trễ 1 của biến POV, liệu
rằng tỷ lệ nghèo năm trước có ảnh hưởng đến tỷ lệ nghèo năm sau hay không và mô hình nào
có ý nghĩa thống kê cao hơn. Nhóm xây dựng PT(3):
Kết quả ước lượng PT(3):

22

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Như các kết quả xuất ra từ ba phương trình, các hệ số của GE, LREM (log của REM), và PINV
đều có ý nghĩa thống kê và giống nhau về dấu, vậy lựa chọn mô hình nào là phù hợp nhất. Sử
dụng các tiêu chí AIC, SC, log likelihood, R2 ta có bảng kết quả so sánh:
Bảng: So sánh các chỉ tiêu lựa chọn mô hình:
PT(1)
PT(2)
PT(3)

AIC
-2.519040
-4.050339
-4.147175

SC
-2.377430
-3.861526
-3.918941

log likelihood
21.89280
34.37754
34.03023

R2
0.617096
0.907767
0.931648

Từ các chỉ tiêu chọn lựa mô hình trên, ta thấy PT(3) phù hợp nhất. Tuy nhiên để sử dụng mô
hình này, chúng ta cần tiến hành một số kiểm định tính bền vững của mô hình OLS.
-

Thứ nhất, kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi. Giả thiết H 0: Mô hình không có
tương quan chuỗi bậc p, và ngược lại là giả thiết H 1. Giá trị Durbin Waston là 2.393884

-

nằm trong đoạn từ 2 đến 4, nên không xảy ra hiện tượng tự tương quan.
Thứ hai, kiểm định phương sai của phần dư. Giả thiết H 0: Phần dư không có hiện tượng
phương sai thay đổi. Từ bảng kết quả kiểm định White ở dưới, ta thấy giá trị nhận giá trị
23

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

1.560746 và có p-value = 0.9060 > 5%. Do đó, chấp nhận giả thiết H 0 rằng phần dư
không có hiện tượng phương sai thay đổi.



Kết quả nghiên cứu:

Từ các kiểm định trên cho thấy mô hình là ổn định và phù hợp. Bây giờ chúng ta sẽ phân
tích kết quả của mô hình này:
POV = C(1)*GE + C(2)*LREM + C(3)*PINV + C(4)*T + [AR(1)=C(5)]
POV = -1.4215906319*GE + 0.111964785815*LREM - 0.538346502749*PINV 0.0184542893829*T + [AR(1)=-0.373376194684]
-

Tất cả các hệ số của các biến GE, LREM, PINV, T đều có ý nghĩa thống kê, chứng tỏ có

-

sự tác động trong thực tế đến biến POV.
Biến chi tiêu công GE có tác động âm và đáng kể nhất đối với tỷ lệ nghèo, cụ thể khi
chi tiêu công tăng 1% GDP thì tỉ lệ nghèo giảm 1.42%, đây cũng chính là mục tiêu định
lượng của bài nghiên cứu của nhóm. Một biến khác cũng tác động đến tỷ lệ nghèo theo
lý thuyết và sự kỳ vọng đó là biến đầu tư tư nhân, khi đầu tư tư nhân tăng sẽ dẫn đến
thu nhập của người dân sẽ tăng, có nhiều việc làm hơn, tiền lương tăng, do đó cuộc
sống được cải thiện hơn. Cụ thể 1% gia tăng trong tỷ lệ đầu tư tư nhân dẫn đến tỷ lệ

-

nghèo giảm 0.53%.
Biến kiều hối khi chạy mô hình ở Việt Nam cho kết quả ngược lại hoàn toàn với trong
bài nghiên cứu của tác giả. Tại sao vậy? Nhóm đưa ra một lập luận, đó là, phần lớn các
hộ gia đình nghèo thông thường cư trú ở các khu vực kinh tế khó khăn, miền núi, vùng
sâu vùng sa, do đó những người này thường sẽ không có họ hàng ở nước ngoài nên sẽ
không thể được nhận kiều hối. Nên kiều hối sẽ không có ảnh hưởng đến việc giảm tỷ lệ
nghèo.

24

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

-

Một biến có ý nghĩa thống kê rất cao là thời gian, như nhóm đã lập luận ở trên, thời gian
sẽ nắm bắt được xu hướng của sự phát triển, và chắc hẳn rằng mối quan hệ này phải là
dương.

Nhóm đã vừa chứng minh bằng định lượng rằng chi tiêu công có ảnh hướng rất lớn làm giảm
tỷ lệ nghèo ở Việt Nam.Và trong phần sau nhóm sẽ đưa ra một số giải pháp và kiến nghị về
vấn đề này.
3. Giải pháp chi tiêu công ở Việt Nam
Chính phủ có thể sử dụng chi tiêu công như một công cụ nhằm hướng đến xóa đói giảm
nghèo bằng các hình thức như chi đầu tư, chi thường xuyên để hướng đến thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao thu nhập cho dân cư, trong đó có người nghèo.
1. Hướng chi tiêu công vào những loại dịch vụ công thiết yếu nhất của xã hội nhằm tạo
cơ hội lớn hơn cho người nghèo trong hưởng thụ các dịch vụ này. Chính phủ nên hỗ trợ ngân
sách ở mức tối đa cho việc cung cấp các dịch vụ giáo dục tiểu học và chăm sóc sức khoẻ ban
đầu - là những dịch vụ thiết yếu cho tất cả mọi người - để tăng cơ hội hưởng thụ của người
nghèo. Ở Việt Nam, mục tiêu chi ngân sách cho giáo dục và y tế cũng được coi trọng, chẳng
hạn Chính phủ dự kiến duy trì ngân sách chi cho giáo dục ở mức 20% tổng chi ngân sách và
tăng tỷ trọng chi cho y tế trong tổng chi NSNN từ 5% hiện nay lên 12% vào năm 2015. Điều
này là cần thiết để bảo đảm có đủ kinh phí thực hiện mục tiêu giảm nghèo. Chẳng hạn, theo
chủ trương của Chính phủ về việc trợ cấp tài chính cho khám chữa bệnh đối với người nghèo
và hỗ trợ một phần cho người cận nghèo, ước tính, diện bao phủ của chính sách BHYT miễn
phí cho người nghèo năm 2008 là khoảng 27 triệu người, nếu tính cả số người cận nghèo dự
kiến được trợ cấp 50% mệnh giá BHYT thì số người được nhận trợ cấp lên đến 41 triệu người.
Để trợ cấp được toàn bộ số đối tượng nói trên, dự kiến NSNN phải chi 6,6 ngàn tỷ đồng/năm,
gấp hơn 2 lần số chi thực tế từ NSNN thông qua BHYT hiện nay.
2. Để nâng cao khả năng đáp ứng các dịch vụ công cho dân cư địa phương, đặc biệt là
người nghèo,Chính phủ cần tăng cường phân cấp ngân sách cho các cấp chính quyền địa
phương. Thực tế cho thấy nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa
phương sẽ phục vụ chủ yếu cho việc cung ứng các dịch vụ công, trong khi cấp trung ương tập
25

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

trung nhiều hơn vào việc hoạch định chính sách và các chức năng quản lý nhà nước. Do đó,
việc tăng cường phân cấp ngân sách cho cấp dưới sẽ tạo điều kiện cho các cấp này thực hiện
chức năng cung ứng dịch vụ công tốt hơn. Các dịch vụ công do cấp chính quyền càng gần dân
cung ứng thì càng có điều kiện sát hợp hơn với nhu cầu của người dân, đồng thời do cấp chính
quyền này nắm vững hơn về dân cư trên địa bàn nên sẽ tăng khả năng phục vụ đúng các đối
tượng mà nhà nước quan tâm, đặc biệt là người nghèo.
Chính quyền cấp dưới chỉ có thể chủ động cung ứng dịch vụ công cần thiết ở địa
phương khi có nguồn thu xác định, đầy đủ và ổn định, đồng thời được giao các nhiệm vụ chi rõ
ràng và phù hợp. Mặc dù cơ chế phân cấp hiện nay thực hiện theo mô hình tập trung quyền lực
ở trung ương và bảo đảm sự điều hoà của trung ương cho các tỉnh, song việc tập trung quá mức
các nguồn thu ở trung ương sẽ dẫn đến chỗ hình thành một cơ chế chuyển giao phức tạp và dễ
bị yếu tố chủ quan làm cho sai lệch. Cần bảo đảm để địa phương có đủ nguồn để trang trải
khoảng 2/3 nhiệm vụ chi tiêu của địa phương, còn 1/3 còn lại là dựa vào sự điều tiết và chuyển
giao của trung ương.
Cần thống nhất về nguyên tắc trong phương thức phân bổ ngân sách ở các tỉnh.Luật
ngân sách nhà nước năm 2002 đã trao cho các tỉnh thẩm quyền tương đối rộng trong phân bổ
ngân sách cho các cấp thấp hơn. Điều đó cho thấy, khi tính công bằng trong phân bổ ngân sách
giữa các tỉnh được cải thiện, cũng chưa bảo đảm rằng sẽ khắc phục được tình trạng phân bổ
không đồng đều giữa các cấp tỉnh, huyện và xã nếu cấp tỉnh không chú trọng đến tính công
bằng trong phân bổ nguồn lực. Vì vậy, ngay tại từng tỉnh cũng cần có cơ chế phân cấp hợp lý
giữa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, sao cho các cấp cơ sở có điều kiện đáp ứng tốt nhất dịch vụ
công cho các đối tượng dân cư trên địa bàn và chú trọng đến người nghèo.
3. Cải tiến cách thức phân bổ ngân sách để khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa các
khu vực về các dịch vụ công thiết yếu. Theo đó, khu vực nào có tiềm năng lớn hơn sẽ có điều
kiện chi tiêu nhiều hơn, trong khi đó những vùng nghèo khó do thiếu kinh phí nên thường có
xu hướng cắt giảm các chi tiêu về dịch vụ công để đảm bảo kinh phí cho các hoạt động thiết
yếu khác của bộ máy.

26