Tải bản đầy đủ
Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

tăng trưởng kinh tế thông qua việc nâng cao năng suất của lực lượng lao động trong xã hội. Vì
vậy, loại chi tiêu này được gọi là chi đầu tư vốn con người (hay chi tiêu dùng). Điều quan
trọng cần lưu ý những khoản chi như thế này phản ảnh một trong những mục tiêu chính của
phát triển kinh tế cho bất kỳ quốc gia nào trên toàn thế giới bởi vì, dù bất kỳ lý do gì, kết quả
đạt được từ việc phát triển kinh tế phải mang đến lợi ích cho toàn thể nhân dân. Một số khoản
chi tiêu biểu là chi cho giáo dục, sức khỏe, những dịch vụ công như luật lệ và trật tự xã hội, trợ
cấp và nhiều khoản chi khác.
Những số liệu của Bảng 1 cho thấy trong cả giai đoạn nghiên cứu (1992 – 2001), Việt
Nam đã chi tiêu dùng cao hơn so với chi đầu tư phát triển. Điều này được hiểu là do Việt Nam
vẫn là quốc gia đang phát triển, vì vậy Chính phủ vẫn đang xem những khoản chi tiêu dùng là
ưu tiên nhằm đáp ứng những nhu cầu cần thiết và cấp bách của người dân trong quá trình phát
triển nền kinh tế.
Theo phân tích đã trình bày ở trên, chi tiêu công có tác động tích cực là làm giảm tỷ lệ
nghèo đói. Thực tế nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy khi Chính phủ gia tăng chi tiêu công
thì thực trạng nghèo đói ở Việt Nam đã được cải thiện, tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo đói
đã dần được thu hẹp,giảm sự phân biệt giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân, nhất là người
dân tộc thiểu số,. Nhờ đẩy mạnh chi tiêu công, Chính phủ có điều kiện để áp dụng các chính
sách ưu tiên và bảo trợ xã hội cho nhóm dân cư yếu thế, dễ bị thiệt thòi trong cơ chế thị trường
thông qua các Chương trình 135, Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc
làm giai đoạn 2001 – 2005…

Bảng 2.Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam
Trung bình cả nước

58% (1993)

37% (1998)

29% (2002)

20% (2004)

16% (2006)

14

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam
Miền núi và Trung du Bắc bộ

74

62

56

43

37

Đồng bằng sông Hồng

60

29

22

12

9

Bắc Trung bộ

72

48

44

32

29

Duyên hải Nam Trung Bộ

46

34

25

19

13

Tây Nguyên

67

52

52

33

29

Đông Nam bộ

30

11

11

6

6

Đồng bằng sông Cửu Long

42

37

24

20

11

Thành thị

23%

17%

14%

4%

Nông thôn

63%

30%

27%

25%

Bảng3. Tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo
Tính theo phần trăm

1993

1998

2002

Tỷ lệ nghèo

58,1

37,4

28,9

Thành thị

25,1

9,2

6,6

Nông thôn

66,4

45,5

35,6

Người Kinh và người Hoa

53,9

31,1

23,1

Dân tộc thiểu số

86,4

75,2

69,3

Nghèo lương thực

24,9

15,0

10,9

Thành thị

7,9

2,5

1,9

Nông thôn

29,1

18,6

13,6

Người Kinh và người Hoa

20,8

10,6

6,5

Dân tộc thiểu số

52,0

41,8

41,5

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Hàng năm, chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo đã hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng
cho hàng trăm xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn và hải đảo, năm 2006 và 2007 mỗi năm xây
dựng 347 công trình, năm 2008 là 550 công trình. Các chương trình nói trên đã góp phần quan
trọng vào mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là tăng sự hưởng thụ dịch vụ công của người
nghèo như cải thiện cơ sở hạ tầng cho các vùng nghèo, vùng núi, vùng sâu, tăng cường các
15

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

dịch vụ giáo dục, y tế cho người nghèo, cải thiện môi trường sống và sinh hoạt cho người
nghèo… Nhờ đó, khả năng tiếp cận của người nghèo đối với một số dịch vụ công đã gần tương
đương với nhóm người giàu, chẳng hạn số người ở nhóm giàu nhất được sử dụng điện lưới là
96,7%, trong khi số người nghèo nhất được sử dụng nguồn điện này là 90,7%.
Chi cho giáo dục của nhóm người giàu nhất năm 2006 gấp 5,75 lần mức chi của nhóm
nghèo nhất, trong đó ở cấp tiểu học là 5,12 lần, đối với giáo dục trung học cơ sở là 3,55 lần.
Trong khi đó, chi tiêu ngân sách cho việc cung ứng dịch vụ công vẫn có xu hướng đem lại lợi
ích nhiều hơn cho người giàu. Càng lên các bậc học cao hơn thì chi tiêu của ngân sách phân bổ
cho giáo dục càng đem lại lợi ích lớn hơn cho người giàu, chẳng hạn 26% trong tổng lợi ích do
giáo dục phổ thông trung học đem lại là dành cho 20% người giàu nhất, trong khi chỉ có 9%
trong tổng lợi ích là đến với nhóm người nghèo nhất.
Hệ thống giao thông liên thôn ở các vùng nghèo còn rất hạn chế, đặc biệt ở Tây Bắc, Đông
Bắc và Tây Nguyên. Ở những vùng này, số xã có đường liên thôn được nhựa hoá, bê tông hoá
trên 50% chỉ chiếm dưới 20%, riêng Tây Bắc là 7,1% . Tỷ lệ dân số được dùng nước sạch ở
thành thị là 80%, ở nông thôn là 38,9%, số dân ở nhóm nghèo nhất được dùng nước sạch là
32,4%
Theo lý thuyết đã nêu ở trên, nếu chính phủ chi tiêu cho đầu tư phát triển thì sẽ có tác dụng
tăng trưởng kinh tế, thong qua đó sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo. Ở Việt Nam, một trong số
những vai trò của cho đầu tư phát triển đối với vấn đề nghèo đói là thực hiện các mục tiêu
xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển hạ tầng, cải thiện đời sống ở các vùng sâu, vùng
xa, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở sản xuất, dịch vụ, tạo tác động tích cực cho hộ
nghèo khai thác các tiềm năng của vùng vươn lên khá giả. Một vài ví dụ về các chương trình
thực hiện chi đầu tư phát triển với mục tiêu xoá đói giảm nghèo: Chương trình 135, Chương
trình 143,…


Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005"
hay viết tắt là chương trình 143( quyết định của Thủ tướng chính phủ số 143/2001/QĐTTG 27/9/2001) thực hiện từ năm 2001 đến 2005 với nhiệm vụ là hỗ trợ người nghèo
16

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

phát triển sản xuất để tăng thu nhập đồng thời có thể tiếp cận được với các dịch vụ công
và giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm ở thành thị để nâng cao chất lượng cuộc
sống người dân. Có 2 mục tiêu cụ thể trong chính sách này là xoá đói giảm nghèo(giảm
tỉ lệ hộ nghèo và xây dựng cơ sở hạ tầng) và giải quyết việc làm (giảm tỉ lệ thất nghiệp),
được tài trợ bằng khoản chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước.



Chương trình 135: thực hiện từ năm 2006 đến năm 2010 với nhiệm vụ là năng cao năng
suất ở các vùng nghèo nơi các đồng bào dân tộc sinh sống; cải thiện cơ sở hạ tầng ở các
thôn, xã khó khăn; nâng cao trình độ quản lí của các cán bộ ở các vùng khó khăn và
cung cấp cho dân nghèo các dịch vụ công tốt nhất.Đối tượng thuộc chương trình là tất
cả các tỉnh miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh Nam Bộ,
phấn đấu đến năm 2010 (cuối giai đoạn 2 của chương trình) không còn hộ đói và giảm
hộ nghèo xuống dưới 30% theo chuẩn nghèo.

Đây là một số chương trình mục tiêu quốc gia đã hoàn thành nhiệm vụ chính là giảm nghèo
đói trong khoảng 10 năm trở lại đây ở Việt Nam.Và những chương trình như thế này cần
được làm thường xuyên hơn không chỉ ở cấp quốc gia mà nên được mở rộng ra ở cấp tỉnh,
huyện. Bằng việc tăng chi đầu tư cho các tỉnh, huyện nghèo,các địa phương sẽ từng bước
giảm tỉ lệ hộ nghèo và phát triển kinh tế bền vững.

Việt Nam đã thành công trong nỗ lực giảm tỷ lệ nghèo từ hơn 60% vào năm 1990 xuống còn
18,1% vào năm 2004, phần lớn nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,với mức tăng bình quân 89% mỗi năm. Duy trì được đà tăng trưởng kinh tế hiện nay là điều kiện cần nhưng chưa
đủ.Tăng trưởng phải đi liền với bình đẳng và phải mang lại lợi ích cho tất cả các vùng và các
nhóm dân cư trong nước.

17

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Trong giai đoạn 1993-2003, khi VN đạt được tốc độ tăng GDP hàng đầu thế giới thì sự
phân hóa giàu nghèo lại gia tang. Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất
bình đẳng thu nhập là một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa.
Trong quá trình đổi mới, bắt đầu theo đuổi “kinh tế thị trường”, nền kinh tế VN có hiệu
suất sinh lời của đồng vốn đầu tư cao. Những người giàu có nhiều điều kiện hơn người nghèo
để sản xuất, kinh doanh và sự sinh lời nhanh đã tạo thêm thu nhập cho họ, góp phần làm tổng
sản phẩm quốc nội tăng trưởng nhanh hơn. Cùng lúc, tại các địa phương có tỷ lệ vốn đầu tư
cao so với GDP và chất lượng giáo dục tốt hơn thì nhóm người giàu càng có cơ hội tích tụ tài
sản, đẩy mạnh làm ăn thu lời. Sự tăng trưởng của các địa phương này vừa tạo thêm của cải cho
người giàu (tăng chênh lệch giàu - nghèo), lại góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
Đối với các quốc gia có mức thu nhập đầu người thấp như VN, mỗi thay đổi nhỏ về
chính sách chi tiêu công thường đem lại nhiều lợi ích hơn cho người giàu. Lý do cơ bản là chi
tiêu công cộng đã nghiêng lệch về những dịch vụ được người giàu tiêu dùng nhiều hơn, cho dù
ban đầu nó có xu hướng vươn tới người nghèo. Đối với VN, những hạn chế chung này vẫn còn
tồn tại, cho dù ở mức độ kém nghiêm trọng. Các chính sách hướng đến cải thiện cuộc sống cho
người nghèo nhiều khi lại vô tình tạo thu nhập cho người giàu (điển hình là chương trình 135 ).
Những phân tích trên đã khẳng định: bất bình đẳng thu nhập đã vừa trực tiếp vừa gián tiếp
góp phần vào tăng trưởng GDP. Dưới đây là một số kiến nghị chính sách có thể giúp dung hoà
được hai khía cạnh này:


Cần đảm bảo người nghèo được hưởng các lợi ích từ các chính sách công như giáo dục,
y tế, hạ tầng cơ sở…



Chính sách đầu tư phát triển cần làm sao để tăng cường vốn cho các địa phương còn
trong điều kiện khó khăn



Tiếp tục đẩy nhanh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Bảng 4. Chênh lệch theo khu vực ở Việt Nam
18

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Hệ số Gini theo thu nhập
1998

2002

2004

Cả nước

0,39

0,42

0,42

Thành thị

0,41

0,41

0,41

Nông thôn

0,34

0,36

0,37

Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình.

Bảng 5. Thu nhập bình quân đầu người và chênh lệch thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người / tháng

Chênh lệch thu

theo giá thực tế (nghìn đồng)

nhập giữa nhóm cao

Nhóm thu nhập

Nhóm thu nhập

nhất và nhóm thấp

cao nhất

thấp nhất

nhất (lần)

1995

519,6

74,3

7,0

1996

574,7

78,6

7,3

1999

741,6

97,0

7,6

2002

872,9

107,0

8,1

2004

1182,3

141,8

8,3

2006

1541,7

184,3

8,4

2008

2458,2

275,0

8,9

2010

3410,2

369,4

9,2

Nguồn: Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình các năm, Tổng cục thống kê.

2. Dữ liệu và bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam


Thu thập và xử lý dữ liệu

Với mục đích tương tự trong bài nghiên cứu gốc, nhóm muốn kiểm định mối quan hệ giữa tỷ
lệ nghèo của Việt Nam với chi tiêu công và 3 biến còn lại: đầu tư tư nhân, tỷ lệ tuyển sinh học
sinh trung học cơ sở và kiều hối. Liệu rằng ở Việt Nam những biến này có tác động lên tỷ lệ
nghèo hay không?Và độ lớn của tác động đó như thế nào?
19

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Tuy đã cố gắng vận dụng thật sâu sắc nhất bài nghiên cứu gốc vào trường hợp Việt Nam,
nhưng nhóm gặp phải một số vấn đề, và quyết định có một số thay đổi trong mô hình. Vì một
số hạn chế trong việc thu thập dữ liệu tại Việt Nam, nhóm chỉ thu thập được ba chuỗi dữ liệu tỷ
lệ nghèo, đầu tư tư nhân, và kiều hối với 15 quan sát từ năm 1998 đến năm 2012, còn biến tỷ lệ
học sinh trung học cơ sở nhóm chỉ tìm được từ 2003 đến 2012. Thứ nhất, bởi vì nếu chạy mô
hình với số lượng quan sát ngắn thì kết quả sẽ không chính xác nên nhóm quyết định loại biến
tỷ lệ học sinh trung học cơ sở ra khỏi mô hình ban đầu. Do vậy mô hình còn 3 biến: tỷ lệ
nghèo, tỷ lệ đầu tư tư nhân, và kiều hối. Thứ hai, cũng vì lí do trên nên nhóm sẽ chạy mô hình
hồi quy tuyến tính cổ điển OLS để xem xét tác động của các biến lẫn nhau như thế nào.
Bảng : Nguồn thu thập dữ liệu:
Biến
POV_Tỷ lệ nghèo
GE_Chi tiêu công
REM_kiều hối


Đơn vị tính
% tổng dân
số
%GDP
LOG

Thời gian
1998:2012

Nguồn
WB

1998:2012
1998:2012

GSO
MOFA

Ước lượng tham số và lựa chọn mô hình

Ký hiệu các biến tương tự trong bài nghiên cứu gốc, chúng ta có phương trình (1):

20