Tải bản đầy đủ
Dữ liệu và bằng chứng thực nghiệm ở Pakistan

Dữ liệu và bằng chứng thực nghiệm ở Pakistan

Tải bản đầy đủ

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

Bảng 1 Kiểm định nghiệm đơn vị (ADF với sự phân tán và xu hướng )
Biến
GE
POV
SSE
PINV
REMT

Bậc
-2.4
-2.238
0.47
-1.8
-0.036

Sai phân bậc 1
-5.9*
-8.986*
-4.52
-4.7*
-4.159**

(*) Mức ý nghĩa 1% (**) Mức ý nghĩa 5%
Tất cả 3 biến trên là không cố định ở mức ý nghĩa nhưng được thấy là sẽ cố định ở mức khác
biệt đầu tiên.
Chú ý : Tiêu chí thông tin của Schwarz được dùng để lựa chọn độ trễ tối ưu.
Một khi các chuỗi có thể được cố định bằng việc sử dụng sai phân bậc 1, chúng có thể được
dùng trong phân tích hồi quy bằng cách áp dụng kỹ thuật đồng liên kết, được dùng trong quan
hệ dài hạn giữa các biến.Bảng 2 giả định rằng có sự tồn tại quan hệ dài hạn giữa các biến.Cả
giá trị riêng tối đa và số liệu thống kê đều cho thấy 5 công thức đồng liên kết tại mức ý nghĩa
5%.Bảng 3 giả định rằng chi tiêu công, kiều hối và tuyển sinh vào trường trung học là đáng kể
và có dấu hiệu tiêu cực.Trong lúc đầu tư tư nhân đang có dấu hiệu tiêu cực nhưng được thống
kê là không đáng kể.Dấu hiệu tiêu cực trong chi tiêu công đồng nghĩa rằng có một sự trái
ngược giữa chi tiêu công và nghèo đói. Nó cho thấy rằng chi tiêu công tiết kiệm làm tăng các
hoạt động kinh tế và giải pháp đầu ra cho việc giảm nghèo đói. Bảng 4 cho thấy các kết quả
của Mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM). Dấu hiệu tiêu cực và tầm quan trọng của mức EC chỉ ra
rằng có tồn tại các mối quan hệ ngắn hạn giữa nghèo đói và chi tiêu công và nó tốn mất 2 năm
để có thể đạt được trạng thái cân bằng.
Phương trình gốc (5) cho thấy mối quan hệ dài hạn giữa nghèo đói và chi tiêu công cùng với
các biến điều khiển :
Pov= -8.93GEt -0.39Pinvt -4.472Sset -0.002Remt

(5)

Bảng 2 : Kiểm định thứ bậc đồng liên kết không hạn chế Johnson
Giả định các Giả định

Theo dõi

Thống kê Max Eigen
10

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

số thứ tự của
Thống kê
Giá trị tới
CE
hạn
Không*
H0; r=0
171.57
68.81
H1; r≥1
Nhiều nhất H0; r=1
113.01
47.85
1*
H1; r≥2
Nhiều nhất H0; r=2
61.95
29.79
2*
H1; r≥3
Nhiều nhất H0; r=3
29.79
15.49
3*
H1; r≥4
Nhiều nhất H0; r=4
10.64
3.84
4*
H1; r≥5
(*) biểu thị sự bác bỏ giả định ở mức 0.05

Thống kê
58.56

Giá trị tới
hạn
33.87

51.06

27.58

32.15

21.13

19.15

14.26

10.64

3.84

Bảng 3 : Các hệ số đồng liên kết bình thường
Biến phụ thuộc POV
GE
SSE
REMT
PINV
Bảng 4 : Mô hình hiệu chỉnh sai số
Các biến
D(GE)
EC(-1)

Hệ số
-0.3044
-0.03551

-0.893
-4.472
-0.002
-0.039
Thống kê sai số
0.1406
0.1636

Thống kê t
-2.1648
-2.1706

Xác suất
0.0394
0.0389

11

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

5. Kết luận
Do chi tiêu công nhiều và sự gia tăng lượng kiều hối nên giảm thiểu được nghèo đói.
Chi tiêu của chính phủ kích thích nền kinh tế trong dài hạn thông qua sự gia tăng trong tổng
cầu. Nghiên cứu này phải được kiểm định rằng có tồn tại hay không mối quan hệ giữa đói
nghèo và chi tiêu công cùng với kiều hối và nguồn nhân lực. Các kết quả của chúng tôi dựa
trên giả định rằng có một mối quan hệ dài hạn giữa các biến.Chi tiêu công và đói nghèo có một
mối quan hệ trái chiều nhau. Sự sụt giảm mạnh của đói nghèo được quan sát sau năm 2002 có
thể là do sự tăng trưởng của kiều hối sau sự kiên 11 tháng 9 từ khắp nơi trên thế giới. Chi tiêu
công hoặc là một sự chi tiêu tích cực dẫn đến sự tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn
nhưng không may là trong trường hợp của các nước đang phát triển như Pakistan thì sự cân
đối tài chính và ngân sách có thể đạt được thông qua kiếm chế chi đầu tư phát triển, nó có thể
gây ra các hiệu ứng tiêu cực đối với sản xuất và hiệu quả kinh tế của cả hệ thống.
Mặt khác, chi tiêu công có nguồn tài chính phù hợp, các nguồn tài trợ đặc biệt trong các
khoảng thời gian xác định sẽ mang lại hiệu quả cao. Nó có thể làm tăng đầu tư tư nhân, tăng cơ
hội việc làm, vốn con người thông qua giáo dục và chi tiêu cho y tế để giảm đói nghèo. Kết
quả cho thấy rằng có mối quan hệ tiêu cực giữa chi tiêu công và đói nghèo, nếu như cần chi
tiêu để có sự phát triển như phát triển về cơ sở vật chất xã hội, cơ sở vật chất công cộng, cơ sở
hạ tầng, trên nữa là sự tạo vốn, y tế và giáo dục chính vì vậy nó có thể giảm thiểu đói nghèo
trong dài hạn. Vậy nên vấn đề thực sự cần được cân nhắc ở đây là cấu trúc của chi tiêu công.
Nhưng thường là sự gia tăng trong chi tiêu công gây ra thâm hụt ngân sách và do đó sẽ bóp
méo nền kinh tế. Các chính phủ cần phải có các biện pháp đa dạng để giảm thiểu sự mất cân
bằng như cắt giảm chi đầu tư phát triển, trợ cấp, chi tiêu xã hội, v.v… những khoản chi có thể
ảnh hưởng tới phúc lợi. Nếu việc giảm thiểu thâm hụt ngân sách là một vấn đề cần được quan
tâm thì chính phủ có thể giảm thiểu bằng cách gia tăng sản xuất và tăng trưởng hơn là việc cắt
giảm chi tiêu.

12

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

B-

MỞ RỘNG NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM

1. Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói ở Việt Nam

Dù còn tồn tại sự khác biệt về thể chế chính trị ở các quốc gia trên thế giới, trong thực tế
luôn có hai lĩnh vực mà chi tiêu công hướng đến và Việt Nam không phải là ngoại lệ.Khu vực
thứ nhất là chi tiêu công phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế.Những khoản chi chúng ta vẫn
thường gọi là chi phát triển kinh tế.Chúng bao gồm nhiều khoản mục khác nhau và tất cả
chúng đều có liên quan trực tiếp đến việc thiết lập một nền tảng tốt hơn cho phát triển kinh
tế.Loại chi tiêu công này được mong đợi là góp phần nâng cao sản lượng của nền kinh tế.Các
khoản chi tiêu này được biết đến như là các khoản chi cho đầu tư và phát triển. Một số những
khoản chi tiêu này là chi tiêu cho nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải
và thông tin, thương mại và công nghiệp, năng lượng và một số khoản chi khác.
Bảng 1: Tổng hợp chi tiêu công của Việt Nam
Nguồn: Báo cáo của IMF, Niên giám thống kê tài chính quốc tế năm1996, 1998, 2000, 2002 của IMF và tổng hợp của tác giả.

Năm

GDP (tỉ
đồng)

Tổng chi
tiêu%

Đầu tư
phát triển
%

Tiêu dùng
%

Giáo dục
%

Y tế%

Dịch vụ
công%

1992

110.535

23,40

1,36

4,53

1,36

1,00

2,18

1993

136.571

28,60

2,19

5,71

2,12

1,24

2,34

1994

170.258

27,40

1,88

5,59

2,18

1,12

2,29

1995

228.840

24,10

1,75

5,60

2,06

1,05

2,49

1996

258.609

23,60

1,54

5,40

2,02

1,03

2,35

1997

313.624

24,80

1,44

5,53

2,30

0,96

2,27

1998

361.016

21,90

1,33

4,86

2,14

0,86

1,86

1999

399.942

22,40

1,21

4,51

2,02

0,78

1,71

2000

444.139

25,50

1,26

4,81

2,49

0,86

1,46

2001

484.492

25,40

1,27

4,53

2,38

0,81

1,33

Bên cạnh các khoản chi vào đầu tư và phát triển, lĩnh vực thứ hai mà chi tiêu công
hướng đến là khoản chi nhằm mục đích cải thiện và nâng cao đời sống của người dân trong
nền kinh tế. Loại chi tiêu này được xem là chi tiêu dùng mặc dù nó cũng đóng góp vào việc
13

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chi tiêu công và nghèo đói. Bằng chứng thực nghiệm và gi ải pháp ở Vi ệt
Nam

tăng trưởng kinh tế thông qua việc nâng cao năng suất của lực lượng lao động trong xã hội. Vì
vậy, loại chi tiêu này được gọi là chi đầu tư vốn con người (hay chi tiêu dùng). Điều quan
trọng cần lưu ý những khoản chi như thế này phản ảnh một trong những mục tiêu chính của
phát triển kinh tế cho bất kỳ quốc gia nào trên toàn thế giới bởi vì, dù bất kỳ lý do gì, kết quả
đạt được từ việc phát triển kinh tế phải mang đến lợi ích cho toàn thể nhân dân. Một số khoản
chi tiêu biểu là chi cho giáo dục, sức khỏe, những dịch vụ công như luật lệ và trật tự xã hội, trợ
cấp và nhiều khoản chi khác.
Những số liệu của Bảng 1 cho thấy trong cả giai đoạn nghiên cứu (1992 – 2001), Việt
Nam đã chi tiêu dùng cao hơn so với chi đầu tư phát triển. Điều này được hiểu là do Việt Nam
vẫn là quốc gia đang phát triển, vì vậy Chính phủ vẫn đang xem những khoản chi tiêu dùng là
ưu tiên nhằm đáp ứng những nhu cầu cần thiết và cấp bách của người dân trong quá trình phát
triển nền kinh tế.
Theo phân tích đã trình bày ở trên, chi tiêu công có tác động tích cực là làm giảm tỷ lệ
nghèo đói. Thực tế nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy khi Chính phủ gia tăng chi tiêu công
thì thực trạng nghèo đói ở Việt Nam đã được cải thiện, tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo đói
đã dần được thu hẹp,giảm sự phân biệt giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân, nhất là người
dân tộc thiểu số,. Nhờ đẩy mạnh chi tiêu công, Chính phủ có điều kiện để áp dụng các chính
sách ưu tiên và bảo trợ xã hội cho nhóm dân cư yếu thế, dễ bị thiệt thòi trong cơ chế thị trường
thông qua các Chương trình 135, Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc
làm giai đoạn 2001 – 2005…

Bảng 2.Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam
Trung bình cả nước

58% (1993)

37% (1998)

29% (2002)

20% (2004)

16% (2006)

14