Tải bản đầy đủ
Mục đích của bài kiểm tra này là để đánh giá năng lực thực sự của của mỗi cá nhân, kích thích tăng cường sự nổ lực của mỗi cá nhân, tránh trường hợp dựa dẫm, ỉ lại.

Mục đích của bài kiểm tra này là để đánh giá năng lực thực sự của của mỗi cá nhân, kích thích tăng cường sự nổ lực của mỗi cá nhân, tránh trường hợp dựa dẫm, ỉ lại.

Tải bản đầy đủ

Thứ ba: GV phải thường xuyên trao đổi, chia sẻ chuyên môn với đồng
nghiệp bởi sự khác nhau về trình độ, cách thức tư duy, phong cách, tác phong nhà
giáo...có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc phát triển năng lực GQVĐ
cho HS. Thông qua sự tác động qua lại mà GV có thể gợi ý cho nhau, bổ sung cho
nhau và chia sẻ những thành công thất bại của mình để rút kinh nghiệm cho các bài
dạy tiếp theo.
Thứ tư: HS phải nhận thức được sự cần thiết của việc phát triển năng lực
GQVĐ cho bản thân, tích cực tham gia học tập và có ý thức trong việc rèn các kỹ
năng GQVĐ, phải thường xuyên thực hành về kỹ năng GQVĐ không chỉ trong học
tập, công việc mà cả trong cuộc sống hằng ngày để cải thiện và nâng cao dần kỹ
năng GQVĐ.
Thứ năm: Cần được sự thống nhất, ủng hộ trong toàn trường từ việc thay đổi
nhận thức đến những việc làm cụ thể thiết thực, tạo điều kiện cho mọi GV trong
việc tổ chức DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ cho HS. Tạo được môi
trường học tập thân thiện, cởi mở để GV, HS có thể trao đổi học hỏi kinh nghiệm
lẫn nhau.
1.4. Xây dựng quy trình dạy học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn
đề cho học sinh trong dạy học vật lí
Căn cứ vào các biện pháp phát triển năng lực GQVĐ có thể xây dựng quy
trình DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ cho HS theo các bước sau:

44

Bước 1: Chuẩn bị các điều kiện tổ chức DH theo hướng phát triển năng lực
GQVĐ
HOẠT ĐỘNG GV

BƯỚC 1

HOẠT ĐỘNG
HS

Nghiên cứu nội dung bài
học

CHUẨN
BỊ

Xác
định
kiến
thức
trọng
tâm
kiến
thức cơ
bản

Xác
định
mục
tiêu
bài
học

Tạo
tình
huống
có vấn
đề cho
từng
nội
dung
bài học

Xác định
các
phương
tiện hỗ
trợ

Nghiên cứu
các tài liệu
liên quan đến
bài học,
chuẩn
phương tiện,
tinh thần thái
độ học tập
theo hướng tự
lực giải quyết
các vấn đề
học tập

Tìm hiểu đối tượng HS
Lựa chọn hình thức tổ chức và
xác định mức độ năng lực
GQVĐ mà HS cần đạt được

Định hướng cách hướng
dẫn cho học sinh GQVĐ

45

Bước 2: Tổ chức thực hiện bài học
HOẠT ĐỘNG GV

HOẠT ĐỘNG HS

BƯỚC 2

Tái hiện lại kiến thức đã
biết
Đặt vấn
đề

Tạo tình huống có
vấn đề

Phát hiện
vấn đề

Quan sát sự vật, hiện
tượng mới
Nhận ra mâu thuẩn, mong
muốn được giải quyết

Nghiên
cứu vấn
đề

Hướng dẫn HS
nhận thức đúng
vấn đề cần nghiên
cứu

Làm rõ
bản chất
của vấn đề
Xác định
mục tiêu
của vấn đề

QUY
TRÌNH
TỔ
CHỨC
THỰC
HIỆN
BÀI
HỌC

Tìm kiếm
giải pháp

GQVĐ

Quan sát, phát
hiện những sai
sót, điều chỉnh và
hỗ trợ kịp thời
cho HS trong quá
trình GQVĐ

Lựa chọn
giải pháp
tối ưu
Thực hiện
giải pháp
đã lựa
chọn

Theo dõi, nhận
xét và rút ra kết
luận
Vận
dụng

Củng cố, giao nhiệm
vụ về nhà

Đưa ra các vấn
đề hoặc tình
huống tương tự

Đưa ra nhiệm vụ

46

Thu thập và phân tích
thông tin, tìm ra nguyên
nhân của vấn đề
Biểu đạt lại vấn đề

Liên tưởng, huy động, tái
hiện tri thức, xác định “cái
đã biết”,“cái cần tìm”
Đưa ra tất cả các giải
pháp có thể
Phân tích ưu nhược điểm
của từng giải pháp
Đưa ra phương án lựa
chọn
Lên kế hoạch thực hiện
và tiến hành thực hiện
theo kế hoạch

Kiểm tra
đánh giá
giải pháp,
khái quát
hóa kết
quả
HS thực
hiện yêu
cầu

Lắng nghe và thực
hiện theo yêu cầu của
GV

Bước 3: Tổng kết, đánh giá mức độ năng lực GQVĐ mà HS đạt được sau
mỗi bài học
BƯỚC 3

HOẠT ĐỘNG GV

HOẠT ĐỘNG HS

Đưa ra các tiêu chí
đánh giá

TỔNG
KẾT,
ĐÁNH
GIÁ

Nhận xét đánh giá
cụ thể năng lực
GQVĐ của HS (cá
nhân/theo nhóm) sau
giờ học
Rút kinh nghiệm và
đặt ra mục tiêu mới
về mức độ năng lực
GQVĐ để học sinh
phấn đấu trong
những giờ học tiếp
theo

Học sinh rút kinh
nghiệm

Tiếp tục phấn đấu
trong những giờ học
tiếp theo

Hình 1.2. Sơ đồ quy trình DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ cho HS
trong DH vật lí
1.5. Thực trạng về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong học tập vật lí
1.5.1. Thực trạng
Qua kết quả khảo sát ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Tiên Phước,
tỉnh Quảng Nam [phụ lục 2] cho thấy năng lực GQVĐ của HS hiện nay còn nhiều
hạn chế cần được quan tâm và giúp đỡ kịp thời để hướng tới việc giáo dục toàn diện
cho HS.
1. Khoảng 68,42 % HS cho rằng năng lực GQVĐ là năng lực bẩm sinh, nên
không cần phải tập luyện, nếu sinh ra vốn đã không thông minh thì dù có cố gắng
thì vẫn không thể thay đổi được gì. Còn 31,57 % HS cho rằng yếu tố bẩm sinh chưa

47

phải là yếu tố quyết định đến năng lực GQVĐ của mỗi người, mà năng lực chủ yếu
được hình và phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động.
2. Phần lớn HS chưa nắm được phương pháp chung để giải quyết một vấn đề
(có tới 60,29 % HS), kỹ năng GQVĐ của các em còn yếu và chậm. Do đó, khi gặp
phải các vấn đề phức tạp các em thường dễ bị mất phương hướng, không biết nên
làm gì trước, làm gì sau và làm như thế nào.
3. Nhiều HS hiện nay có suy nghĩ đến trường là để tiếp thu kiến thức, chỉ cần
hiểu được các kiến thức trong SGK và biết cách vận dụng kiến thức đó vào giải bài
tập là đủ rồi. Bởi các em cho rằng như vậy là có thể làm được các bài kiểm tra, hay
xa hơn nữa là có thể lấy được những bằng cấp mà các em cho là cần thiết. Rất ít HS
ý thức được tầm quan trọng của việc học đến sự phát triển các năng lực của bản
thân như năng lực GQVĐ, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp…
4. Hầu hết các em đều có mong muốn tự mình có thể giải quyết được các vấn
đề mà các em gặp phải trong học tập cũng như trong đời sống hằng ngày, nhưng
nhiều em lại không tin vào khả năng của bản thân. Chỉ có 11 % HS tin tưởng mình
có thể làm được điều này, nếu họ cố gắng học hỏi và rèn luyện các kỹ năng GQVĐ
và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo vào từng vấn đề cụ thể. Và 49,76 % HS
tin mình cũng có thể làm được điều này nếu có sự trợ giúp từ bên ngoài. Còn lại
39,23 % HS không tin vào năng lực của bản thân. Do đó HS thường có suy nghĩ
nhờ vả ai đó làm thay mình. Vì vậy, khi phải gặp phải một vấn đề gì hơi khó một
chút các em thường tỏ ra lo lắng, lúng túng và tìm cách lẩn tránh mặc dù vấn đề đó
nằm trong khả năng của các em.
5. Khi nói về môn vật lí, có tới 73,21 % HS cho rằng vật lí là môn học khô
khan, chủ yếu là học lý thuyết suông và giải bài tập, không có gì thú vị hay cần thiết
cho cuộc sống của họ. Các em cho rằng vật lí là môn học khó, phức tạp, nhàm chán
không liên gì đến công việc của họ sau này. Vì vậy, khi gặp phải một vấn đề gì có
liên quan đến vật lí các em thường có những biểu lộ cảm xúc và hành vi rất khác
nhau, có người cảm thấy lo lắng, chán nản, không dám đối mặt, nhưng cũng có
người lại chấp nhận và coi đó là một hiệm vụ phải làm chứ chẳng có hứng thú gì cả.
Do đó, hầu hết những HS đều trông chờ vào câu trả lời của GV hơn là tự tìm cách
GQVĐ để chiếm lĩnh kiến thức. Còn lại 21,05% HS là có ý thức trong việc nghiên

48

cứu giải quyết các vấn đề mà GV đặt ra bởi họ cho rằng vật lí là môn học thực sự
thú vị, nó gắn liền với mọi hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.
6. Bên cạnh đó, cũng có một số HS lại có suy nghĩ việc rèn luyện kỹ năng hay
phát triển năng lực GQVĐ để làm gì, không có có cũng có chẳng sao, nó có ảnh
hưởng gì đến kết quả học tập đâu. Điều này sẽ gây trở ngại rất lớn cho việc tổ chức,
thu hút sự chú ý, nổ lực của các em vào hoạt động GQVĐ.
1.5.2. Nguyên nhân
Thực trạng trên là kết quả của sự kết hợp giữa các nguyên nhân đến từ nhiều
phía: HS, nhà trường và xã hội.
Học sinh
Phần lớn HS chưa ý thức được tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc
phát triển năng lực GQVĐ cho bản thân. Chỉ có một số ít HS nhận thức được rằng
năng lực GQVĐ là một trong những năng lực không thể thiếu trong học tập cũng
như trong cuộc sống hằng ngày. Vì bất cứ ai cũng có thể gặp phải những vấn mà
chính bản thân họ phải tự tìm cách giải quyết chứ không phải chỉ khi tự mình tạo ra
các vấn đề mới cần có năng lực GQVĐ. Do đó, các em coi năng lực GQVĐ là một
trong những nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi người.
Bên cạnh đó, HS thường gặp nhiều khó khăn khi giải quyết các vấn đề là do
các em không tin vào khả năng của bản thân không dám tự mình ra quyết định cho
một vấn đề, dễ bị thay đổi lập trường nên thường dựa dẫm vào người khác.
Ngoài ra, cũng có thể do các em chưa hiểu kỹ, hiểu chắc kiến thức môn học, nên
khi gặp phải một vấn đề có liên quan đến việc vận dụng các kiến thức đã học các em
thường bị lúng túng, thậm chí không biết vận dụng kiến thức nào, vận dụng như thế
nào cho đúng. Mà trong quá trình GQVĐ thì kiến thức mà HS có được không chỉ là
phương tiện cơ bản kích thích hoạt động tư duy ban đầu, hoạt động GQVĐ mà còn
phản ánh là kết quả cuối cùng mà HS đạt được trong các quá trình này.
Nhà trường
Hiện nay, việc phát triển chương trình đào tạo theo chuẩn năng lực(năng lực
nhận thức, năng lực GQVĐ, năng lực hợp tác, năng lực tự học v.v…) gắn đào tạo
với nhu cầu kinh tế xã hội đã và đang hiện hữu như là một xu thế toàn cầu và tất
yếu trong nhà trường ở mọi cấp học, bậc học. Tuy nhiên, tư tưởng tiếp cận năng lực

49

trong phát triển và thực hiện các chương trình đào tạo ở trường học vẫn chưa được
thực hiện một cách chính thức và tường minh[32].
Mặc dù, hiện nay nhiều phương pháp DH tích cực được đưa vào thử nghiệm
và giảng dạy tại nhà trường như DH GQVĐ, DH dựa trên vấn đề, bàn tay nặn bột…
Nhưng đa phần GV chỉ coi đó chỉ là phương pháp dạy để HS tiếp thu kiến thức tốt
hơn. DH ở nhà trường thường chú trọng về truyền đạt kiến thức cho HS hơn phát
triển năng lực người học. Nên nhiều GV ít chú ý đến việc giới thiệu cho HS nắm bắt
phương pháp; rèn luyện kỹ năng hay dạy cho HS cách GQVĐ thông qua việc tổ
chức DH theo các phương pháp này. Do đó, nhiều HS chưa nắm được phương pháp
chung để giải quyết mọi vấn đề, cũng như kỹ năng GQVĐ còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó, vật lí là môn khoa học tự nhiên với nhiều ứng dụng trong đời
sống hằng ngày. Nhưng việc DH vật lí của một sốGV còn khô khan, các vấn đề đưa
ra còn mang tính áp đặt, chưa tạo được những tình huống kích thích hứng thú, kích
thích tư duy thu hút sự tham gia của HS vào việc GQVĐ, cho nên kết quả đạt được
chưa thực sự như mong muốn.
Hiện nay, việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS đã được xã
hội quan tâm và có tác động lớn đến việc đổi mới cách dạy của thầy và cách học của
trò. Tuy nhiên hình thức đánh giá kết quả học tập phổ biến, rộng rãi trong thực tế
giáo dục hiện nay vẫn còn là mô hình đánh giá theo quan điểm truyền thống. Tức là
đánh giá kết quả học tập dựa trên nội dung chương trình học tập của môn học (như
đánh giá mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng , thái độ,....). Trong đó, đánh giá
trên dựa cở sở đạt được về mặt kiến thức vẫn là chủ yếu.
Hay nói cách khác, mô hình đánh giá truyền thống chưa thật sự mang tích tích
cực và hiệu quả cao trong mối liên hệ với quá trình đào tạo và phát triển năng lực
của người học, chưa tạo được động cơ để HS tích cực, tự giác tham gia GQVĐ,
phát triển năng lực cho bản thân. Do đó, vấn đề đặt ra ở đây là phải thúc đẩy sự cải
tiến, đổi mới không ngừng các dạng thức, mô hình đánh giá kết quả học tập của HS
nhằm tạo cở sở cho việc đánh giá xác thực năng lực của người học theo chuẩn năng
lực đầu ra như hiện nay.

50

Xã hội
Mặc dù, các nhà tuyển dụng hiện nay đã có sự đổi mới về yêu cầu đối với
người được tuyển dụng, đó là coi trọng năng lực thực tế hơn là chú trọng về mặt
bằng cấp. Tuy nhiên, ở một số nơi hiện nay vẫn còn coi nặng chuyện bằng cấp. Điều
này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc đặt mục tiêu phấn đấu của nhiều HS. Nhiều
em đến trường với suy nghĩ làm thế nào để có được một tấm bằng tốt, hơn là muốn
có được một năng lực thực sự cần thiết cho cuộc sống sau này.
1.6. Kết luận chương 1
Trong chương 1 luận văn trình bày những nội dung cơ bản về năng lực; năng lực
GQVĐ, năng lực GQVĐ HS trong học tập vật lí. Qua đó, cho thấy giữa DH và phát
triển năng lực GQVĐ cho HS có mối quan hệ khắn khít với nhau. Trong đó, GV là
người có vai trò quan trọng trong việc trang bị cho HS những hành trang cần thiết
để khi vấn đề nảy sinh HS có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng sẵn có để
GQVĐ một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, với mong muốn tìm cách phát triển năng lực GQVĐ cho HS
trong DH vật lí, đề tài đã tiến hành nghiên cứu, phân tích làm rõ hệ thống kỹ năng
GQVĐ của HS trong DH vật lí; những yếu tố ảnh hưởng đến việc DH theo hướng
phát triển năng lực GQVĐ cho HS cũng như đánh giá được thực trạng về năng lực
GQVĐ của HS trong học tập vật lí hiện nay; xác định những nguyên nhân căn bản
của thực trạng. Từ đó, đưa ra cụ thể 2 nhóm biện pháp để phát triển năng lực
GQVĐ cho HS thông qua DH bộ môn vật lí.
Trong đó, nhóm biện pháp 1 là rèn luyện hệ thống kỹ năng GQVĐ cho HS;
nhóm biện pháp 2 là tạo động cơ hứng thú, tăng cường sự tham gia tích cực của HS
vào hoạt động GQVĐ. Và căn cứ vào 2 nhóm biện pháp này đã xây dựng được quy
trình DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ cho HS trong DH vật lí có thể vận
dụng trực tiếp vào quá trình DH nhằm phát triển năng lực GQVĐ cho HS.
Tất cả những cơ sở lý luận đã phân tích trong chương này sẽ được vận dụng để
thiết kế các bài DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ trong phần “Nhiệt học”
vật lí 10 nâng cao thuộc nội dung chương 2 của luận văn này.
Trên cở sở nghiên cứu, luận văn muốn khẳng định rằng: DH là con đường phát
triển năng lực GQVĐ, đồng thời năng lực GQVĐ là cơ sở, điều kiện để DH thành công.

51

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẦN NHIỆT HỌC VẬT LÍ 10 NÂNG CAO

2.1. Đặc điểm, cấu trúc nội dung kiến thức của phần Nhiệt học
2.1.1. Đặc điểm chung của phần Nhiệt học
Vật lí phân tử và nhiệt học là một khoa học cấu thành toàn bộ kiến thức vật lí
cổ điển và vật lí hiện đại, là chiếc cầu nối giữa vật lí vĩ mô và vật lí vi mô, giữa vật
lí cổ điển và vật lí hiện đại.
Nội dung chủ yếu của phần Nhiệt học được trình bày dựa trên ba quan điểm:
quan điểm vĩ mô, quan điểm vi mô, quan điểm năng lượng. Cụ thể, sử dụng quan
điểm vĩ mô để truyền đạt các kiến thức như định luật Bôilơ-Mariôt, Sac-lơ, GayLuytsac, trong đó phương trình Menđêleep-Clapêron là kết quả TNg tổng hợp từ ba
sự kiện TNg. Quan điểm vi mô khi nghiên cứu về chất rắn, cấu trúc chất lỏng, sự
dính ướt không dính ướt…Quan điểm năng lượng khi nghiên cứu về các nguyên lý
của nhiệt động lực học. Như vậy, điểm khác nhau cơ bản khi giải thích các hiện
tượng nhiệt so với hiện tượng cơ là: các hiện tượng nhiệt được giải thích dựa vào
cấu trúc phân tử của các vật, phụ thuộc vào lực tương tác giữa các phân tử, và tính
chất chuyển động nhiệt của các hạt (các phân tử, nguyên tử, ion).
Như vậy, việc chuyển từ nghiên cứu cơ học sang nghiên cứu vật lí phân
tử và nhiệt học là một giai đoạn mới có tính chất nguyên tắc trong hoạt động
nhận thức, trong sự hình thành và phát triển thế giới quan vật lí, thế giới quan
khoa học của HS.

52