Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

Tải bản đầy đủ

1.1. Năng lực
1.1.1. Khái niệm năng lực
Có những định nghĩa khác nhau về năng lực
Theo định hướng phát triển năng lực người học thì “năng lực là sự kết hợp
một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị,
động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động
trong bối cảnh nhất định” (Theo quan niệm trong chương trình giáo dục phổ thông
của Quebec - Canada).
Trong khoa học tâm lý, người ta coi “năng lực là những thuộc tính tâm lý
riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp
một loại hoạt động nào đó mặt dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết
quả cao”[3].
Cũng theo quan điểm trên, X.L. Rubinstein chú trọng đến tính có ích của hoạt
động, ông coi năng lực là điều kiện cho hoạt động có ích của con người: “Năng lực
là toàn bộ những thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với một hoạt động
có ích lợi xã hội nhất định” (Dẫn theo [18]).
Epstein & Hundert (2002) xác định “năng lực là việc sử dụng thường lệ và xác
đáng kĩ năng giao tiếp, kiến thức và kĩ năng chuyên môn, khả năng luận lý, các cảm
xúc, giá trị và tiến trình xem xét ngẫm nghĩ trong thực tiễn hoạt động hằng ngày vì
lợi ích của cá nhân và và của cộng đồng mà mình đang phục vụ”.( dẫn theo [19].
Khi nhấn mạnh đến tính mục đích và nhân cách của năng lực, Phạm Minh Hạc
đưa ra định nghĩa: “Năng lực chính là một tổ hợp các đặc điểm tâm lí của một con
người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận
hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy” [5].
Vậy, năng lực là sự tích hợp sâu sắc giữa kiến thức - kỹ năng - thái độ làm nên
khả năng thực hiện một công việc chuyên môn và được thể hiện trong thực tiễn hoạt
động. Năng lực liên quan đến thái độ, động cơ, khả năng giúp cá nhân phát triển
kiến thức về phương thức hoạt động và các kĩ năng trong một lĩnh vực hoạt động
nào đó một cách độc lập.

16

1.1.2. Đặc điểm của năng lực
Năng lực là những vấn đề khá trừu tượng trong tâm lí học. Tuy còn có những
cách hiểu và diễn đạt khác nhau, song về cơ bản các nhà tâm lí học đều thống nhất
rằng năng lực có hai đặc điểm cơ bản[3].
Thứ nhất: Năng lực thể hiện đặc thù tâm lí, sinh lí khác biệt của cá nhân, chịu
ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh di truyền về mặt sinh học.
Yếu tố duy truyền tạo ra những điều kiện ban đầu để con người có thể hoạt
động có kết quả trong lĩnh vực nhất định. Tuy nhiên, yếu tố này không quy định
những giới hạn tiến bộ của năng lực mà chỉ tạo nên tiền đề của sự phát triển năng
lực. Yếu tố này được phát triển hay hạn chế phụ thuộc vào môi trường hoạt động
khác nhau.
Thứ hai: Năng lực được hình thành, phát triển và được thể hiện thông qua các
hoạt động cụ thể.
Khi nói đến năng lực là nói đến năng lực trong một hoạt động cụ thể của con
người. Năng lực không có sẵn trong con người mà bằng hoạt động và thông qua
hoạt động con người tự chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của thế hệ đi
trước biến thành năng lực của chính mình.
Thực tế nhiều nhà khoa học cũng đã chứng minh rằng “thiên tài, chín mươi
chín phần trăm là do lao động, chỉ có một phần trăm là do bẩm sinh”. Như vậy,
hoạt động của chủ thể có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành và phát triển
năng lực.
1.2. Năng lực giải quyết vấn đề
1.2.1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
Trong quá trình học tập và làm việc luôn nảy sinh nhiều vấn đề cần được giải
quyết. Việc giải quyết một vấn đề nào đó là cả một quá trình đòi hỏi con người phải
vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm vốn
có của bản thân. Do đó, cách thức và hiệu quả GQVĐ của mỗi người cũng có sự
khác nhau. Điều này phụ thuộc vào năng lực GQVĐ của mỗi người.
Năng lực GQVĐ có thể hiểu là khả năng giải quyết có hiệu quả một vấn đề
nào đó, trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có. Năng lực

17

này bao gồm các năng lực thành tố như: năng lực phát hiện vấn đề; năng lực đề xuất
và lựa chọn giải pháp; năng lực thực hiện giải pháp và đánh giá kết quả thu được.
Người có năng lực GQVĐ là người có khả năng giải quyết tốt mọi vấn đề
mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt hiệu quả cao hoặc có thể vượt qua
những khó khăn mới trong quá trình GQVĐ mà người khác không thể vượt qua
được. Năng lực này được hình thành và phát triển thông qua hoạt động giải quyết
các vấn đề trong nảy sinh quá trình sống, học tập, làm việc của mỗi người.
1.2.2. Năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong học tập vật lí
Kiến thức vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được con
người khẳng định. Tuy vậy, chúng luôn mới mẻ đối với HS. Quá trình nghiên cứu
kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi HS phải đưa ra
những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân của họ.
Do đó, việc tổ chức cho HS hoạt động tích cực, tự lực giải quyết những
nhiệm vụ nhận thức dưới sự hướng dẫn, định hướng của GV sẽ tạo nên năng lực
GQVĐ cho HS thông qua quá trình học tập vật lí.
Năng lực GQVĐ của HS trong học tập vật lí chính là khả năng giải quyết có
kết quả những vấn đề nảy sinh trong học tập vật lí, trên cơ sở vận dụng những tri
thức, kinh nghiệm, kỹ năng của HS. Năng lực này được biểu hiện ở các mặt sau:
Ðộng cơ hứng thú học tập
Có thái độ tích cực khi học tập môn vật lí, thể hiện qua tinh thần tự giác, có ý
thức, trách nhiệm khi tham gia giải quyết các vấn đề học tập.
Kiến thức, kỹ năng
- Có kỹ năng khi tiến hành các hoạt động GQVĐ;
- Đạt được kết quả phù hợp với yêu cầu đặt ra khi GQVĐ;
- Biết vận dụng sáng tạo và có kết quả trong các tình huống, bài toán khác
đồng thời biết cách vận dụng vào trong thực tế cuộc sống;
- Biết phát hiện và sửa chữa sai lầm hay thấy được cái hay, sâu sắc trong mỗi
giải pháp.
Như vậy, chỉ có thể đo đuợc sự phát triển năng lực GQVÐ của HS thông qua
việc xác định mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng khi tiến hành những hoạt
động thành phần và kết quả đạt được thông qua hoạt động đó.

18

Tuy nhiên, không thể đo cụ thể mức độ thành tạo các thao tác và kỹ năng khi
tiến hành những hoạt động thành phần của hoạt động GQVĐ để đánh giá mức độ
phát triển năng lực GQVĐ của HS. A.V. Pêtrôpxki đã chỉ rõ: “Trong quá trình tư
duy giải quyết các vấn đề, tính chất của các thao tác hoạt động phụ thuộc vào mục
đích mà các thao tác nói trên huớng tới và vào nội dung của vấn đề cần giải quyết”
[11]. Ðể thuận lợi cho việc “thao tác hoá” năng lực GQVÐ của HS trong học tập
vật lí, có thể tham khảo cách tiếp cận của X.Rogiers: “năng lực học tập có thể đuợc
cụ thể hoá thành những hoạt động của HS trên nội dung tri thức trong một loại tình
huống có ý nghĩa với các em” [12].
Như vậy, để kiểm tra đánh giá mức độ phát triển năng lực GQVÐ của HS
trong học tập vật lí, GV có thể (và cần phải) tạo ra cho HS một số tình huống vật lí
(không giống y như tình huống đã học mà chỉ có thể tương tự hoặc khác nhau về
hình thức) để HS tự tìm cách giải quyết. Từ đó, dựa vào kết quả này để đánh giá
mức độ phát triển năng lực GQVÐ của HS.
1.2.3. Các mức độ năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong học tập vật lí
Căn cứ vào mức độ tham gia của HS vào quá trình GQVĐ có thể phân ra các
các mức độ GQVĐ.
Mức độ thứ nhất: HS đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về việc GQVĐ khi
vấn đề đã được GV đặt ra một cách tương đối rõ ràng.
Mức độ thứ hai: HS nhận ra được vấn đề do GV đưa ra, biết hoàn tất việc
GQVĐ dưới sự gợi ý, dẫn dắt củaGV.
Mức độ thứ ba: HS chủ động phát hiện được vấn đề, dự đoán những điều kiện
nảy sinh vấn đề và nhận xét cách thức tiếp cận để phát hiện và GQVĐ.
Căn cứ vào cách xác định các mức độ về năng lực GQVĐ có thể phân bậc
hoạt động phát triển năng lực GQVĐ theo các cấp độ.
+ Cấp độ tập dượt: HS có thể tự thực hiện những kỹ năng cần thiết theo một
trình tự đã biết. Song HS chỉ thực hiện được những kỹ năng này trong những tình
huống quen thuộc.
+ Cấp độ phát triển: HS có thể vận dụng và tiến hành có hiệu quả các kỹ
năng GQVĐ trong những tình huống khác nhau.

19

+ Cấp độ hoàn thiện: kĩ năng được hoàn thiện, được thực hiện một cách sáng
tạo trong mọi tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì.
Việc phân cấp các mức độ, cấp độ về năng lực GQVĐ của HS sẽ là căn cứ để
định hướng phát triển, xác định các tiêu chí đánh giá cũng như để lựa chọn tình
huống có vấn đề hay bài tập phù hợp cho việc đặt mục tiêu phát triển năng lực
GQVĐ cho từng đối tượng HS.
1.2.4. Các giai đoạn giải quyết vấn đề của học sinh trong học tập vật lí
Dựa theo quan điểm của Howard Senter[8] có thể chia quá trình GQVĐ gồm
các giai đoạn diễn ra như sau:
Giai đoạn 1. Nhận thức vấn đề
Giai đoạn này bao gồm: phát hiện vấn đề; làm rõ bản chất của vấn đề; biểu
đạt vấn đề và xác định mục tiêu cho vấn đề.
Phát hiện vấn đề
Vấn đề không phải lúc nào cũng được đưa ra dưới dạng tường minh, mà có
thể được đưa ra một cách gián tiếp thông qua tình huống cụ thể nào đó. Do đó, HS
phải biết cách phát hiện vấn đề cần nghiên cứu một cách cụ thể, rõ ràng. Để sớm
nhận ra vấn đề đòi hỏi nhiều ở kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng của HS.
Xác định, làm rõ bản chất của vấn đề
Một trong những yêu cầu quan trọng khi GQVĐ là xác định đúng bản chất
của vấn đề. Để xác định đúng bản chất của vấn đề HS cần phân tích kỹ lưỡng
nguyên nhân của vấn đề nhằm tìm ra nguyên nhân gốc của vấn đề. Nếu chưa hiểu rõ
nguồn gốc của vấn đề sẽ dễ dẫn đến cách giải quyết sai lệch, hoặc vấn đề cứ lặp đi
lặp lại. Nếu nói theo ngôn ngữ của y khoa, việc "bắt không đúng bệnh" thì chỉ trị
triệu chứng, chứ không trị được bệnh.
Biểu đạt vấn đề cần giải quyết
Khi đã làm rõ bản chất của vấn đề HS cần mô tả hay diễn đạt vấn đề theo
cách hiểu của mình một cách rõ ràng, cụ thể bằng ngôn ngữ nói hoặc viết.

20

Xác định mục tiêu cho vấn đề cần giải quyết
Việc xác định mục tiêu cho vấn đề tuy đơn giản nhưng lại hết sức cần thiết.
Nếu mục tiêu không được xác định một cách cụ thể rõ ràng thì việc tìm kiếm giải
pháp cho vấn đề sẽ trở nên lang mang thậm chí không biết tập trung trí tuệ, sức lực
của mình vào đâu, để làm gì. Alex Morrison, tác giả, nguyên Giám đốc điều hành
của Canadian Institute of Strategic Studies lưu ý: “Chỉ khi bạn định hình mục tiêu
một cách rõ ràng trong tâm trí, bạn mới có thể hành động để đạt mục tiêu ấy”.
Giai đoạn 2. Tìm kiếm giải pháp cho vấn đề
Căn cứ vào mục tiêu đặt ra và các thông tin thu thập được từ việc phân tích
vấn vấn đề HS tích cực nghiên cứu để đưa ra các giải pháp cho vấn đề. Mỗi giải
pháp sẽ có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Do đó, nếu càng có nhiều giải
pháp được đưa ra thì HS càng có thêm cơ hội để lựa chọn ra giải pháp tốt nhất. Vì
vậy, ở giai đoạn này HS cần liệt kê tất cả những giải pháp có thể để sau đó xác định
một giải pháp tối ưu.
Giai đoạn 3. Lựa chọn giải pháp tối ưu
Mỗi vấn đề thường chỉ có một giải pháp tốt nhất để giải quyết một cách hiệu
quả. Do đó, HS cần phân tích, xem xét, đánh giá tất cả các giải pháp để lựa chọn
một giải pháp tối ưu nhất.
Giai đoạn 4. Tổ chức thực hiện giải pháp đã lựa chọn
Có thể nói đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình GQVĐ bởi nếu HS
không thực hiện tốt ở giai đoạn này thì toàn bộ quá trình GQVĐ sẽ thất bại.
Thực hiện giải pháp là biến những ý tưởng của giải pháp tối ưu được lựa chọn
bằng việc lên một kế hoạch thực hiện với sự cân nhắc nhiều yếu tố như thời gian,
bối cảnh, địa điểm, các phương tiện hỗ trợ và tiến hành những hành động cụ thể để
thực hiện giải pháp.
Giai đoạn 5. Đánh giá kết quả, hiệu quả khi thực hiện giải pháp và khái
quát hóa kết quả thu được
Sau khi thực thi giải pháp, HS cần dựa trên mục tiêu đã đề ra để xác định
những mục tiêu nào đã đạt được và mục tiêu nào chưa hoàn thành cũng như lý do
chưa thực hiện được. Bằng cách này, HS có thể kiểm tra xem cách giải quyết đó có
thành công như mong đợi hay không, có tạo những ảnh hưởng không mong đợi nào

21

không và quan trọng nhất là rút kinh nghiệm cho lần sau. Hoặc đặt trường hợp vấn
đề vẫn chưa được giải quyết thì HS phải tìm hiểu nguyên nhân và tìm cách khắc
phục cho đến khi vấn đề được giải quyết. Nếu vấn đề đã được giải quyết thì HS cần
tổng hợp, khái quát hóa kết quả thu được cũng như suy nghĩ đề xuất vấn đề mới nếu
cần thiết.
Nhận thức vấn đề
Làm rõ bản chất của vấn đề
Phát hiện
vấn đề cần
giải quyết

Thu
thập
thông
tin

Phân
tích và
tổng hợp
thông tin

Nguyên
nhân
của vấn
đề

Biểu đạt
vấn đề
cần giải
quyết

Xác
định
mục
tiêu của
vấn đề

Tìm kiếm giải pháp cho vấn đề
Lựa chọn giải pháp tối ưu
Tổ chức thực hiện
Kiểm tra, đánh giá giải pháp và khái quát hóa kết quả thu được
Hình 1.1. Sơ đồ các giai đoạn giải quyết vấn đề
1.3. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học vật lí
1.3.1. Mối quan hệ giữa dạy học với việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề
cho học sinh
Tâm lý học hoạt động đã chỉ ra rằng con đường để hình thành, phát triển
năng lực là con đường luyện tập có mục đích, có hệ thống [4]. Vưgôtxki L. X và
Lêonchiev A. N khi bàn về cơ chế hình thành hành động, trong đó có việc tập luyện
để đạt được mức kỹ năng, kỹ xảo, các tác giả này cũng đã phân loại các kiểu luyện
tập như: luyện tập ngẫu nhiên; luyện tập theo chương trình hoá (luyện tập theo quy
trình nhất định); luyện tập có điều khiển, hướng dẫn (có mục đích, có chủ định).

22

Theo quan điểm lý luận DH thì DH chính là con đường tổ chức cho HS thực
hiện các thao tác, các hành động học tập có điều khiển và hướng dẫn của GV. Hay
đây chính là con đường luyện tập các kỹ năng học tập hiệu quả tránh được những
mò mẫm, sai sót. Thông qua DH, GV có thể tạo ra những tình huống đa dạng,
phong phú, cần thiết, tạo điều kiện để HS tham gia tích cực vào hoạt động GQVĐ
dưới sự điều khiển, hướng dẫn thường xuyên của GV. Từ đó, năng lực GQVĐ của
HS sẽ được hình thành, củng cố và phát triển. Như vậy, phát triển năng lực GQVĐ
cho HS hiệu quả nhất chính là có sự điều khiển, hướng dẫn, cố vấn, tham gia của
GV thông qua con đường DH. Ngược lại, khi năng lực GQVĐ của HS được hình
thành và phát triển nó sẽ tạo cơ sở để DH thành công.
Có thể nói, giữa DH và việc phát triển năng lực GQVĐ cho HS có mối quan
hệ mật thiết và biện chứng với nhau. DH là con đường phát triển năng lực, đồng
thời năng lực là cơ sở, điều kiện để DH thành công. Tuy nhiên, để DH thực sự có
hiệu quả trong mối quan hệ phát triển năng lực GQVĐ thì hoạt động DH phải tuân
theo những yêu cầu sau:
+ Phải tuân theo mục tiêu và kế hoạch chi tiết đã thiết kế;
+ Phát triển năng lực GQVĐ phải tiến hành tuần tự từng bước, từ giúp đỡ HS
nhận biết tầm quan trọng của việc thực hiện các thao tác, hành động GQVĐ đến
luyện tập phát triển các kỹ năng GQVĐ, từ những kỹ năng dễ, đến thử nghiệm và
phát triển những kỹ năng khó, phức tạp hơn;
+ Lựa chọn thời cơ tốt để truyền thụ kỹ năng (lúc HS gặp khó khăn khi
GQVĐ và mong muốn có những kỹ năng này);
+ Kiên trì tạo dựng tình huống có vấn đề để HS được thường xuyên luyện
tập, vận dụng linh hoạt sáng tạo các kỹ năng đã có.
Hay nói cách khác, năng lực GQVĐ của HS chỉ có thể phát triển trên cơ sở
thống nhất từ việc xác định mục tiêu, xác định nhiệm vụ, lựa chọn nội dung,
phương pháp, ... đến việc triển khai các bước tiến hành hoạt động DH phải cùng
nhằm chung một mục đích.

23

1.3.2. Các yếu tố hưởng đến việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học
sinh trong dạy học vật lí
Các yếu tố chủ quan
Về phía GV
Yếu tố nhận thức
Nhận thức của GV về sự cần thiết phải phát triển năng lực GQVĐ cho HS
trong DH vật lí là điều kiện đầu tiên và có tác động rất lớn đến kết quả DH theo
hướng phát triển năng lực GQVĐ. Bởi nhận thức của GV quyết định đến việc xác
định mục tiêu, nội dung, phương pháp, kỹ thuật tổ chức... Do đó, ngay từ đầu GV đã
phải có ý thức, trách nhiệm trong việc thiết kế hoạt động DH nhằm phát triển năng
lực GQVĐ cho HS.
Yếu tố năng lực
Năng lực của GV ở đây chính là khả áp dụng các phương pháp DH tích cực
để có thể biến tri thức khoa học thành tri thức, hành vi, thái độ hiện thực của HS.
Để tổ chức các hoạt động DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ cho HS
đem lại hiệu quả cao thì cần phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương
pháp DH tích cực phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh và nhiệm vụ học tập
nhất định. Do đó, yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức các tình huống
có vấn đề cũng như việc lựa chọn nội dung, phương pháp phù hợp cho việc phát
triển năng lực GQVĐ cho HS.
Vì vậy, việc bồi dưỡng cho GV các kỹ năng tổ chức cũng như chia sẻ kinh
nghiệm thành công hay nguyên nhân thất bại trong quá trình phát triển năng lực
GQVĐ cho HS của GV cần được quan tâm.
Ngoài ra, còn một số yếu tố chủ quan khác của GV cũng có ảnh hưởng đến
việc phát triển năng lực GQVĐ cho HS như: tâm trạng khi lên lớp, sự tâm huyết,
lòng nhiệt tình,…
Về phía HS
Yếu tố nhận thức
Cũng như GV, nhận thức của HS cũng đóng vai trò quan trọng. Bởi muốn
phát triển năng lực GQVĐ cho HS đem lại hiệu quả, thì trước hết HS phải nhận

24

thức được sự cần thiết cũng như ý nghĩa của sự phát triển năng lực đó đối với bản
thân HS, từ đó HS mới nảy sinh nhu cầu hay có mong muốn được phát triển.
Khi nhận thức của HS còn hạn chế sẽ dễ dẫn đến những biểu hiện tiêu cực
như thụ động, không có ý thức tự giác, không phấn đấu, nổ lực khi tham gia
GQVĐ, dẫn đến hiệu quả đạt được không cao.
Do đó, muốn phát triển năng lực GQVĐ cho HS đòi hỏi HS phải không ngừng
nâng cao nhận thức của bản thân về sự cần thiết phải phát triển năng lực GQVĐ đồng
thời có ý thức phấn đấu và nổ lực vươn lên để đạt được kết quả tốt hơn.
Yếu tố trí tuệ
Đối với HS THPT, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình
nhận thức. Tư duy của các em cũng chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn.
Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho HS thực hiện các thao tác tư duy phức tạp
như phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ
nhân quả trong tự nhiên và xã hội…
Tuy nhiên, hiện nay số HS THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi
như trên còn chưa nhiều. Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc
lập suy nghĩ, còn hay kết luận vội vàng theo cảm tính. Vì vậy HS thường bộc lộ
những hạn chế trong việc GQVĐ như:
- Có khuynh hướng sử dụng những phương pháp đã có, vội vàng trong suy
nghĩ cũng như trong GQVĐ;
- Không đủ khả năng để hủy bỏ một giải pháp không khả thi để tìm một giải
pháp mới hay quá cứng nhắc trong việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề.
Vì vậy, GV cần quan tâm định hướng cho HS thực hiện các thao tác tư duy
phù hợp với vấn đề cần giải quyết tránh những sai sót không đáng có.
Yếu tố tâm lý
Các yếu tố về tâm lý như thiếu tự tin, lo sợ, nôn nóng, vội vàng…thường có
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả GQVĐ. Cụ thể, khi tham gia GQVĐ HS thường
có những biểu hiện tiêu cực như:
- HS cảm thấy lo lắng và không đủ tự tin khi nhận nhiệm vụ được giao;
- Sợ bị người khác phát hiện khuyết điểm hay sợ bị giám sát;

25

- Nôn nóng trong việc tìm kiếm giải pháp dễ dẫn đến những sai lầm không
đáng có, không sẵn sàng chấp nhận khó khăn nên khi gặp khó khăn dễ dàng bỏ cuộc;
- Thiếu tự tin khi trình bày một vấn đề hay đưa ra giải pháp.
Vì vậy, trong quá trình DH, GV cần tạo tâm thế thuận lợi, tạo môi trường học
tập thân thiện để HS có cơ hội thể hiện hết khả năng của mình.
Các yếu tố khách quan
Cùng với các yếu tố chủ quan, các yếu tố khách quan cũng ảnh hưởng không
nhỏ trong việc phát triển năng lực GQVĐ cho HS.
Không gian DH
Để hoạt động DH diễn ra thuận lợi thì không gian DH là một trong những
điều kiện cần được quan tâm. DH cần một không gian rộng rãi, thoải mái, linh hoạt
tạo điều kiện cho việc nảy sinh các ý tưởng mới khi tìm kiếm giải pháp cho vấn đề
cũng như việc vận chuyển các đồ dùng DH được dễ dàng.
Các phương tiện, điều kiện vật chất phục vụ DH
DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ vận dụng thường xuyên các
phương pháp DH tích cực, điều này đòi hỏi phải có các điều kiện, PTDH đi kèm.
Do dó, ngoài không gian học tập rộng rãi, các phương tiện, điều kiện vật chất trong
phòng học hay phòng TN cần phải đầy đủ cho DH như: máy chiếu, bảng phụ; TN;...
Số lượng và thành phần HS trong các lớp học
Để phát triển năng lực GQVĐ cho HS một cách tốt nhất thì số lượng HS
không nên quá đông nhưng cũng không quá ít. Số lượng HS quá đông sẽ rất khó
cho GV trong việc tổ chức, quản lý, hướng dẫn và quan sát hoạt động của HS. Số
lượng quá ít lớp học sẽ buồn tẻ, thiếu không khí thi đua, phấn đấu giữa các thành
viên trong lớp.
Mặt khác, thành phần HS đa dạng về giới tính, kinh nghiệm, trình độ, vùng
miền,... cũng đem lại những thuận lợi và hạn chế nhất định.
1.3.3. Hệ thống kỹ năng giải quyết vấn đề cần rèn luyện cho học sinh để phát
triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học vật lí
Quá trình GQVĐ được tiến hành theo các giai đoạn khác nhau, trong đó mỗi
giai đoạn được thực hiện sẽ gắn liền với một số kĩ năng nhất định. Cụ thể, để thực
hiện tốt 5 giai của quá trình GQVĐ HS cần rèn luyện hệ thống các kỹ năng GQVĐ.

26