Tải bản đầy đủ
Lý do chọn đề tài

Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ

đào tạo một lớp người có đủ phẩm chất và năng lực thích ứng với n ền kinh tế thị
trường, tham gia phát triển kinh tế, văn hoá xã hội một cách bền vững. Để đạt được
mục tiêu đó, ngành Giáo dục cần phải đổi mới một cách mạnh mẽ và đồng bộ cả về
nội dung lẫn phương pháp và phương tiện dạy học (PTDH).
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh
gây gắt thì việc phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong
thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống. Do đó, việc phát
triển năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) cho học sinh (HS) giúp HS có thể giải
quyết tốt các vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống cá nhân, gia đình cộng
đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học (DH) mà phải được đặt ra
như một mục tiêu giáo dục và đào tạo. Mục tiêu này cần được xem là một đường lối
chiến lược để làm cho giáo dục Việt Nam gắn đào tạo với nhu cầu kinh tế xã hội.
Cụ thể khi nhìn nhận về vấn đề này Raja Roy Singh, nhà giáo dục nổi tiếng ở
Ấn Độ, chuyên gia giáo dục nhiều năm ở UNESCO khu vực Châu Á-Thái Bình
Dương đã khẳng định: “Để đáp ứng được những đòi hỏi mới được đặt ra do sự
bùng nổ kiến thức và sáng tạo ra kiến thức mới, cần thiết phải phát triển năng lực
tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo... Các năng lực
này có thể qui gọn là “năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề” [18].
Ở Việt Nam, các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư khoá VII (1993), lần thứ hai
khoá VIII (1997) của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Luật
Giáo dục đã nêu rõ: “Cuộc cách mạng về phương pháp giáo dục hướng vào người
học, rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn đề một
cách năng động, độc lập, sáng tạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ
thông. Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”[24]. Bên cạnh đó, cải cách giáo dục phổ
thông sau 2015 đang được chuẩn bị thực hiện cũng đã chính thức công bố là một
chương trình giáo dục theo cách tiếp cận năng lực [17]. Với những thay đổi tích cực
của Luật Giáo dục vừa được ban hành thì việc triển khai chương trình đào tạo theo
chuẩn năng lực đã và đang hiện hữu như là một xu thế toàn cầu và tất yếu trong nhà
trường ở mọi cấp học, bậc học.
Mặt khác, khi bàn về mục tiêu và phương pháp bồi dưỡng con người Việt

10

Nam trong điều kiện mới Thái Duy Tuyên đã chỉ ra: “Giáo dục không chỉ đào tạo
con người có năng lực tuân thủ, mà chủ yếu là những con người có năng lực sáng
tạo,... biết cách đặt vấn đề, nghiên cứu và giải quyết vấn đề...”[14]. Và thực tế hiện
nay các dự án phát triển giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
(THPT) ở hầu khắp các nước trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng đang thực
hiện đổi mới giáo dục theo định hướng trên. Cụ thể phát triển năng lực GQVĐ cho
HS thông qua các môn học điều này được thể hiện đặc biệt rõ nét ở trong quan điểm
trình bày kiến thức và phương pháp DH thông qua chương trình sách giáo khoa
(SGK) sau năm 2015[2].
Trong khi đó Vật lí học là môn học có tính khái quát cao, mang tính đặc thù
riêng của khoa học vật lí chứa đựng nhiều tiềm năng để phát triển năng lực GQVĐ,
bởi thực chất của học vật lí là học cách phát hiện và giải quyết các vấn đề vật lí nhất
là các vấn đề có liên quan trực tiếp đến thực tế cuộc sống. Cụ thể, khi DH các khái
niệm, các định lí, định luật hay giải bài tập vật lí…, mỗi nhiệm vụ học tập đó có
những đặc trưng riêng góp phần quan trọng trong việc phát triển năng lực GQVĐ
cho HS. Đặc biệt, trong phần Nhiệt học Vật lí 10 nâng cao có nhiều định luật,
nhiều hiện tượng vật lí liên quan đến đời sống hằng ngày đòi hỏi HS phải biết cách
nhìn nhận và giải quyết các vấn đề mà thực tế đặt ra.
Tuy nhiên, khi nói đến thực tế DH ở trường THPT hiện nay, Nguyễn Cảnh
Toàn viết: “... Kiến thức, tư duy, tính cách con người chính là mục tiêu của giáo
dục. Thế nhưng, hiện nay trong nhà trường, tư duy và tính cách bị chìm đi trong
kiến thức...”[13], Hay nói cách khác, thực tế dạy hiện nay nói chung và DH vật lí
nói riêng hầu hết giáo viên (GV) chỉ chú trọng đến việc cung cấp khối lượng kiến
thức cho HS hơn là tổ chức các hoạt động DH theo hướng phát triển năng lực
GQVĐ cho HS. Trong khi đó yêu cầu đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay
là phải điều chỉnh nội dung DH theo hướng tinh giản hơn, chuyển dần sang hướng
DH phát triển năng lực (làm được gì) của HS [25].
Để đáp ứng những yêu cầu trên, đòi hỏi nhà trường phổ thông không chỉ
dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng đã được loài người tích
lũy mà cần phải phát triển cho HS năng lực GQVĐ. Trong đó, xu thế đưa HS vào
thế giới thực, đặt HS trước những bài toán thực tế để HS tự giải quyết, qua đó
giúp HS tự bồi dưỡng kiến thức, phát triển năng lực GQVĐ cho bản thân, biến

11

mình thành trung tâm của giáo dục là xu thế của thời đại đang được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm.
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn nói trên đã đặt ra yêu cầu và tạo điều kiện cho
việc nghiên cứu phát triển năng lực GQVĐ cho HS trong DH nói chung và trong
DH vật lí nói riêng.
Vì những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực giải quyết
vấn đề cho học sinh trong dạy học phần “Nhiệt học” Vật lí 10 nâng cao trung
học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn góp phần vào việc đổi mới
phương pháp DH, nâng cao chất lượng DH vật lí hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
Xu thế đổi mới phương pháp DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ cho
HS đã được nhiều nước quan tâm nghiên cứu. Vào đầu những năm 1970 và đầu
những năm 1980 tại các trường đại học ở Minnesota của Mỹ nhiều giảng viên vật lí
bắt đầu có mong muốn cải thiện việc giảng dạy của mình theo hướng phát triển
năng lực GQCĐ cho sinh viên, với mong muốn là hiểu được những khó khăn mà
sinh viên gặp phải trong việc giải quyết các vấn đề về vật lí và điều này được thể
hiện qua bài báo của nhóm tác giả McDermott & redish, “Physics Education
Research”1999[29]. Có thể nói, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề
phát triển năng lực GQVĐ cho HS trong DH vật lí đã trở thành một lĩnh vực nghiên
cứu mới của nghiên cứu Giáo dục Vật lí. Và từ đây bắt đầu có nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu đến vấn đề phát triển năng lực GQVĐ cho HS trong DH vật lí như
Thomas M. Foster, (2000). “The development of students' problem-solving skills
from instruction emphasizing qualitative problem-solving” university of Minnesota
[26]. Ngoài ra, còn có nhiều tác giả khác cũng quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này
như Larkin, Hambrick, D. Z., & Engle,…
Ở Việt Nam, quan điểm DH theo hướng phát triển năng lực đã được Bộ Giáo
dục triển khai vào đầu năm học 2013-2014 ở gần 2.000 trường tiểu học và ở các cấp
học phổ thông, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của năm học này[17].
Bên cạnh đó, định hướng này cũng đã được đưa vào đề tài luận văn thạc sĩ,
tiến sĩ như Lương Thị Lệ Hằng “Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong

12

dạy học chương Từ trường và Cảm ứng điện từ Vật lí 11 trung học phổ thông theo
hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của máy vi tính” (luận án
tiến sĩ).
Tác giả Lê Phạm Liên Chi “phát triển năng lực tư duy cho học sinh trong
dạy học chương Dòng điện không đổi Vật lí 11 nâng cao”(luận văn thạc sĩ).
Tuy nhiên, có thể nói hiện nay vấn đề phát triển năng lực GQVĐ cho HS trong
DH vật lí ở trường THPT chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách đầy đủ. Cụ thể
chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực GQVĐ cho HS
trong DH phần “Nhiệt học” Vật lí 10 nâng cao.
3. Mục tiêu của đề tài
Xây dựng được quy trình DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ dựa trên
cơ sở các biện pháp phát triển năng lực GQVĐ cho HS và vận dụng vào DH phần
“Nhiệt học” Vật lí 10 nâng cao.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được quy trình DH theo hướng phát triển năng lực GQVĐ và
vận dụng quy trình đó vào DH phần “Nhiệt học”Vật lí 10 nâng cao thì sẽ phát triển
được năng lực GQVĐ cho HS, nhờ vậy mà kết quả học tập được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ chính sau đây:
- Nghiên cứu lý luận về việc phát triển năng lực GQVĐ cho HS trong DH vật lí;
- Tìm hiểu thực trạng về năng lực GQVĐ của HS hiện nay trong học tập vật
lí và làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó;
- Nghiên cứu các biện pháp và xây dựng quy trình DH theo hướng phát triển
năng lực GQVĐ cho HS trong DH vật lí;
- Nghiên cứu đặc điểm phần “Nhiệt học” Vật lí 10 nâng cao và thiết kế bài DH
theo hướng phát triển năng lực GQVĐ cho HS phần “Nhiệt học” Vật lí 10 nâng cao;
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) để đánh giá giả thuyết khoa học
của đề tài.
6. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học phần “Nhiệt học” Vật lí 10 nâng cao theo hướng phát
triển năng lực GQVĐ cho HS.

13