Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRỢ CẤP

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRỢ CẤP

Tải bản đầy đủ

Chương 1: Tổng quan về trợ cấp

1.3. Phân tích và so sánh tác động của từng loại trợ cấp:
1.3.1.

Trợ cấp qua giá (trợ cấp có yêu cầu chi đối ứng) và trợ cấp tiền mặt:

Giả sử Chính phủ quyết định trợ cấp sản phẩm X cho người dân. Hình thức trợ cấp có thể
là trợ giá sản phẩm X này hoặc cung cấp một số tiền tương ứng.

Giả sử một cá nhân có đường ngân sách B1 như hình. Để tối đa hóa hữu dụng, cá
nhân sẽ chọn tiêu dùng ở điểm A1 (14,22). Bây giờ Chính phủ quyết định trợ cấp bằng
cách trợ giá 50% sản phẩm X. Vì giá của sản phẩm X giảm và sản phẩm khác không đổi
nên đường ngân sách B1 sẽ thay đổi độ dốc, lúc này đường ngân sách mới là dường B2
như hình. Tại đường này cá nhân sẽ tiêu dùng ở điểm A2 (22,28) để đạt được mức tối đa
hóa hữu dụng.
Mặt khác, giả sử Chính phủ quyết định trợ cấp bằng tiền mặt với một lượng tiền
tương ứng với lượng trợ giá sản phẩm X như trên. Bây giờ ta sẽ có đường ngân sách mới
B3 (song song với B1 và cắt B2 tại A2). Tại đây cá nhân chắc chắn sẽ chọn tiêu dùng ở
điểm A3 (38,17) để tối đa hóa hữu dụng của mình.
Như vậy, việc trợ cấp bằng tiền mặt sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho người tiêu
dùng so với việc trợ cấp qua giá.

Chương 1: Tổng quan về trợ cấp

1.3.2.
-

Trợ cấp hiện vật và trợ cấp tiền mặt:
Trường hợp 1:

Giả sử Chính phủ quyết định trợ cấp sản phẩm X cho người dân. Hình thức trợ cấp
có thể là cung cấp một số lượng sản phẩm X này hoặc một số tiền tương ứng.
Giả sử lượng trợ cấp là X*=10 và cá nhân có một đường ngân sách B1 như hình.
Để tối đa hóa hữu dụng, cá nhân sẽ tiêu dung ở điểm A1. Bây giờ Chính phủ quyết định
trợ cấp thêm cho cá nhân này 10 sản phẩm X. Tại mỗi điểm trên đường ngân sách cũ, cá
nhân có thêm 10 sản phẩm X. Như vậy, đường ngân sách B1 dịch chuyển sang phải 10
đơn vị thành B2. Tại đây cá nhân sẽ tiêu dung ở điểm mới A2 để tối đa hóa hữu dụng.
Mặt khác, nếu bây giờ Chính phủ quyết định trợ cấp bằng cách cung cấp một
lượng tiền mặt tương ứng với số lượng sản phẩm X nói trên. Đường ngân sách của cá
nhân B1 sẽ dịch chuyển ra phía ngoài một lượng và trở thành đường ngân sách B3, trùng
với đường B2. Tại đây, nếu X là hàng hóa thông thường, tức thu nhập tăng thì lượng tiêu
dùng hàng hóa này cũng tăng, thì lúc này cá nhân cũng sẽ tiêu dùng ở điểm A2 để tối đa
hóa hữu dụng.
Như vậy trong trường hợp này, với số đơn vị sản phẩm X cá nhân tiêu dùng lớn
hơn số đơn vị được trợ cấp thì dù Chính phủ sử dụng chính sách trợ cấp hiện vật hay trợ
cấp tiền mặt thì đều đem lại cùng một lợi ích.

Chương 1: Tổng quan về trợ cấp

-

Trường hợp 2:

Giả sử Chính phủ quyết định trợ cấp sản phẩm X cho người dân. Hình thức trợ cấp
có thể là cung cấp một số lượng sản phẩm X này hoặc một số tiền tương ứng.
Giả sử lượng trợ cấp là X*=10 và cá nhân có một đường ngân sách B1 như hình.
Để tối đa hóa hữu dụng, cá nhân sẽ tiêu dùng ở điểm A1. Bây giờ Chính phủ quyết định
trợ cấp thêm cho cá nhân này 10 sản phẩm X. Tại mỗi điểm trên đường ngân sách cũ, cá
nhân có thêm 10 sản phẩm X. Như vậy, đường ngân sách B1 dịch chuyển sang phải 10
đơn vị thành B2. Tại đây cá nhân sẽ tiêu dùng ở điểm mới A2 để tối đa hóa hữu dụng.
Mặt khác, nếu bây giờ Chính phủ quyết định trợ cấp bằng cách cung cấp một
lượng tiền mặt tương ứng với số lượng sản phẩm X nói trên. Đường ngân sách của cá
nhân B1 sẽ dịch chuyển ra phía ngoài một lượng và trở thành đường ngân sách B3, trùng
với đường B2. Tại đây, nếu X là hàng hóa thứ cấp, tức thu nhập tăng lượng tiêu dùng
hàng hóa đó giảm, thì cá nhân sẽ chọn tiêu dùng ở điểm A3 để tối đa hóa hữu dụng (do
A3 nằm trên đường bàng quan cao hơn).
Như vậy trong trường hợp này, với số đơn vị sản phẩm X cá nhân tiêu dùng nhỏ
hơn số đơn vị được trợ cấp thì nếu Chính phủ áp dụng chính sách trợ cấp tiền mặt, sẽ
mang lại lợi ích cao hơn so với chính sách trợ cấp hiện vật.

Chương 2: Thực trạng dịch vụ Internet ở Việt Nam và chính sách wi-fi cộng đồng

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ INTERNET Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH
SÁCH WI-FI CỘNG ĐỒNG
2.1. Thực trạng dịch vụ Internet ở Việt Nam:
2.1.1. Tốc độ Internet trung bình tại Việt Nam thấp nhất khu vực và châu Á:
So với quý 4/2013, tốc độ Internet trung bình tại Việt Nam tăng 6 bậc nhưng vẫn
bị xếp vào loại thấp nhất Đông Nam Á nói riêng và trên toàn châu Á nói chung.
Theo kết quả nghiên cứu vừa được hãng quản lí lưu lượng Internet và giải pháp
công nghệ Akamai (Mỹ) công bố về tình hình Internet toàn cầu trong 3 tháng quý 1/2014
cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ kết nối Internet trung bình
thuộc vào loại thấp nhất tại châu Á nói chung và khu vực Đông Nam Á.
Trong đó, tốc độ Internet trung bình tại Việt Nam đạt 2,0 Mbps, xếp thứ 107 trên
thế giới và xếp thứ 6 tại khu vực Đông Nam Á, sau Singapore (8,4 Mbps), Thái Lan (5,2
Mbps), Malaysia (3,5 Mbps), Indonesia (2,4 Mbps) và Philippines (2,1Mbps).
2.1.2. Giá cước tăng, nhưng tốc độ internet Việt Nam vẫn chậm
Dù tăng cước nhưng tốc độ Internet Việt Nam chúng ta vẫn dậm chận tại chỗ,
thậm chí là thụt lùi. Cùng với quyết định tăng giá cước dịch vụ Internet, các nhà mạng
cũng không quên khẳng định, Trong khi đó, các quốc gia trong khu vực lại có những
bước tăng trưởng vượt bậc và dần bỏ xa chúng ta.
So sánh Việt Nam với các quốc gia trong khu vực. Đường truyền các quốc gia như
Thái Lan hay Malaysia, vốn đã nhanh hơn Việt Nam, vẫn tăng trưởng tốt hơn. Tốc độ
Internet của 2 quốc gia này tăng trưởng 46% so với cùng kỳ năm ngoái và đạt 4,5 –
4,6Mbps, cao hơn mức trung bình thế giới.
Những quốc gia đi sau Việt Nam như Indonesia hay Philippines, cũng cho thấy
mức tăng trưởng vượt bậc.
10 năm qua, Việt Nam vẫn luôn tự hào với tốc độ phát triển Internet. Chúng ta đã
phát triển rất nhanh về lượng: Hơn 30 triệu người dùng Internet, chiếm 1/3 dân số, thời
gian người dân sử dụng trên Internet ngày càng nhiều và số lượng thuê bao di động
không ngừng tăng lên.

Chương 2: Thực trạng dịch vụ Internet ở Việt Nam và chính sách wi-fi cộng đồng

Tuy nhiên, ở mặt còn lại, chúng ta lại chưa cho thấy sự phát triển tương xứng về
chất: Tốc độ đường truyền không có nhiều cải thiện và thậm chí còn thua kém so với thời
điểm trước đó ( Quý 2/2011 tốc độ đường truyền Internet của Việt Nam đạt đỉnh
1,88Mbps, cao hơn 10% so với thời điểm hiện tại) và ngày càng bị bỏ xa lại so với thế
giới.
2.2. Chính sách phát Wi-Fi miễn phí ở một số thành phố lớn:
2.2.1. Chủ trương phát triển hệ thống Wi-Fi của một số thành phố:
Với tổng kinh phí đầu tư là 25 tỉ đồng, Hội An (Quảng Nam) trở thành TP đầu tiên
ở Việt Nam đưa hệ thống Wi-Fi vào phục vụ miễn phí người dân và khách du lịch trong
năm 2012. Hệ thống Wi-Fi phủ sóng tại 350 điểm phát sóng trong đô thị cổ Hội An, giúp
người dân và du khách có thể truy cập Internet miễn phí với tốc độ 256Kbps.
Tháng 8/2013, thành phố Đà Nẵng cũng khai trương hệ thống hạ tầng Công nghệ
thông tin – truyền thông với tổng kinh phí đầu tư trên 13 triệu USD. Trong đó, hệ thống
mạng Wi-Fi được người dân quan tâm nhất với 320 trạm thu phát sóng, đảm bảo phục vụ
cùng lúc cho 20.000 lượt truy cập (mỗi lần 20 phút và không giới hạn số lần truy cập),
với băng thông 300MB. Tại Việt Nam, Đà Nẵng là thành phố thứ tư phủ sóng Wi-Fi miễn
phí, góp phần nâng cao dân trí và hoạt động giáo dục - đào tạo qua mạng; quảng bá du
lịch; giám sát và cảnh báo ô nhiễm môi trường; quản lý giao thông đô thị, thiên tai...
Thành phố Huế cũng đã triển khai lắp đặt thử nghiệm từ 6-8 khu vực tập trung
nhiều du khách và các điểm hành chính công. Tại mỗi điểm hệ thống Wi-Fi sẽ phủ sóng
từ 300-1.000m, bắt đầu hoạt động từ khoảng tháng 9/2013.
Hệ thống Wi-Fi miễn phí gồm 24 điểm truy cập cũng đã được thành phố Đà Lạt
triển khai. Thành phố Hồ Chí Minh cũng tiến hành thí điểm lắp đặt mạng Internet không
dây trên các tuyến xe buýt để thu hút người dân sử dụng loại phương tiện vận tải công
cộng này.
Từ cuối tháng 12/2013, người dân tại khu vực trung tâm thành phố Hải Phòng
cũng đã được sử dụng Wi-Fi miễn phí.