Tải bản đầy đủ
Các khái niệm sử dụng từ ngữ trong luận văn

Các khái niệm sử dụng từ ngữ trong luận văn

Tải bản đầy đủ

5

7. Bảo vật quốc gia là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu
biểu của đất nƣớc về lịch sử, văn hóa, khoa học.
8. Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm đƣợc làm giống nhƣ bản gốc
về hình dáng, kích thƣớc, chất liệu, mầu sắc, trang trí và những đặc điểm khác.
9. Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa
phi vật thể, đƣợc thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung
về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và
xã hội.
10. Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập,
nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ.
11. Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hƣ hỏng
mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn
hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
12. Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu
sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
13. Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm
phục hƣng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ
sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó.
14. Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là việc xác định phạm vi và biện
pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi các yếu tố gốc của di tích trong một khu vực xác
định, định hƣớng tổ chức không gian các hạng mục công trình xây dựng mới, hệ
thống công trình hạ tầng kỹ thuật và tạo lập môi trƣờng cảnh quan thích hợp trong
khu vực di tích.
15. Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi hệ thống di tích (sau đây gọi chung là
quy hoạch hệ thống di tích) là quy hoạch toàn bộ di tích trên địa bàn tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ƣơng bao gồm di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích cấp
tỉnh và đối tƣợng đã đƣợc kiểm kê di tích;

6

16. Quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích (sau đây gọi chung là
quy hoạch tổng thể di tích) là quy hoạch đối với một di tích quốc gia đặc biệt hoặc
cụm di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh tạo thành một quần thể phân bố trong cùng
một khu vực địa lý, có mối quan hệ mật thiết về lịch sử, văn hóa, khoa học;
17. Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ
trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
18. Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học,
làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
19. Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh
du lịch, cộng đồng dân cƣ và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.
20. Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhân văn khác có
thể đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các
khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
21. Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tài
nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thƣởng thức những giá trị của tài nguyên du
lịch.
22. Đô thị du lịch là đô thị có lợi thế phát triển du lịch và du lịch có vai trò quan
trọng trong hoạt động của đô thị.
23. Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ƣu thế về tài nguyên du
lịch tự nhiên, đƣợc quy hoạch, đầu tƣ phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của
khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trƣờng.
24. Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan
của khách du lịch.

7

25. Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp
dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thuỷ,
đƣờng hàng không.
26. Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của
khách du lịch trong chuyến đi du lịch.
27. Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lƣu trú, ăn
uống, vui chơi giải trí, thông tin, hƣớng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng
nhu cầu của khách du lịch.
28. Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giƣờng và cung cấp các dịch vụ
khác phục vụ khách lƣu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lƣu trú du lịch chủ yếu.
29. Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chƣơng trình đƣợc
định trƣớc cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc
chuyến đi.
30. Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ
chƣơng trình du lịch cho khách du lịch.
31. Hướng dẫn du lịch là hoạt động hƣớng dẫn cho khách du lịch theo chƣơng trình
du lịch.
Ngƣời thực hiện hoạt động hƣớng dẫn đƣợc gọi là hƣớng dẫn viên và đƣợc thanh
toán cho dịch vụ hƣớng dẫn du lịch.
32. Phương tiện chuyên vận chuyển khách du lịch là phƣơng tiện bảo đảm các
điều kiện phục vụ khách du lịch, đƣợc sử dụng để vận chuyển khách du lịch theo
chƣơng trình du lịch.
33. Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm,
thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch.
34. Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đƣợc các nhu cầu hiện tại mà
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tƣơng lai.

8

35. Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn
hoá địa phƣơng với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững.
36. Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự
tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.
37. Môi trường du lịch là môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội nhân văn nơi
diễn ra các hoạt động du lịch.

THÔNG BÁO
Để xem được phần chính văn của tài liệu này, vui
lòng liên hệ với Trung Tâm Thông tin Thư viện
– Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
Địa chỉ: T.13 – Nhà H – Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Đ/c: Km 10 – Nguyễn Trãi – Thanh Xuân Hà Nội.
Email: digilib.hau@gmail.com

TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN

77

5

PHẦN KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ

1. Kết luận
Với việc thực hiện tuần tự các bƣớc nhƣ nghiên cứu, điều tra, khảo sát, tập hợp
và phân tích các dữ liệu, đánh giá và xác định các đặc điểm, cùng với việc xem xét
và phân tích kỹ lƣỡng các yếu tố cơ bản tác động đến mô hình một ngôi đền mang
tính tƣởng niệm ở thời hiện nay. Luận văn đã có cơ sở để đƣa ra những kết luận
chính sau đây:
Kết luận 1: Thiết chế quy hoạch không gian kiến trúc tín ngƣỡng truyền thống
của ngƣời Việt - ngôi đền, đƣợc ông cha ta xây dựng nhằm để thờ và tôn vinh các vị
thánh, thần, các vị anh hùng dân tộc, những ngƣời có công với nƣớc và với từng
vùng đất, không những đƣợc duy trì và có ý nghĩa lớn trong đời sống tâm linh và
văn hoá của cộng đồng hôm nay, mà còn đƣợc kế thừa và thích ứng với các nhu cầu
đa dạng của cuộc sống tinh thần - tâm linh của xã hội thời hiện đại hóa và hội nhập.
Những ngôi đền thời nay, tuy quy hoạch xây dựng có phần khác xƣa, chủ yếu nhằm
tôn vinh những nhân vật có công với nƣớc – vẫn là một hình thức vĩnh cửu hoá phù
hợp hơn cả, có sức thuyết phục và truyền cảm hơn cả, đối với con ngƣời Việt Nam.
Các hình thức quy hoạch không gian kiến trúc cảnh quan vĩnh cửu hoá và tôn
vinh, du nhập từ nƣớc ngoài nhƣ tƣợng, tƣợng đài, phù điêu, gọi chung là nghệ
thuật hoành tráng, trên thực tế chƣa đem lại hiệu quả về sự tác động tinh thần và
tình cảm, còn xa lạ với đại đa số đồng bào, ít đƣợc họ quan tâm. Chƣa nói là giới
điêu khắc ở ta cũng chƣa hẳn đã làm chủ đƣợc ngôn ngữ và hình thức biểu đạt của
điêu khắc ngoài trời, điêu khắc ở các địa điểm lƣu niệm.
Chúng ta nên kế thừa mô hình quy hoạch không gian kiến trúc cảnh quan ngôi
đền truyền thống, tuy nhiên phải cải tiến cho phù hợp với thời đại.
Kết luận 2: Hiện nay ở khắp mọi miền đất nƣớc đang thịnh hành trào lƣu quy
hoạch xây dựng ồ ạt các ngôi đền thờ, thậm chí ở một tỉnh thành ngƣời ta nở rộ xây
dựng đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trƣớc tiên, việc quy hoạch xây dựng quá nhiều các ngôi đền, có quy mô quá
đồ sộ, nặng về phô trƣơng hình thức, gây tốn kém tiền của Nhà nƣớc và nhân dân.

78

sau đó, các ngôi đền hầu hết thiên về xây để thờ cúng là chính, ít chú trọng đến các
nội dung giáo dục tƣ tƣởng và truyền thống, phổ cập tri thức lịch sử và văn hoá.
Ngoài ra, chúng thƣờng thiếu những không gian cần cho các hoạt động lễ hội, các
hoạt động văn hoá cộng đồng đa dạng khác, điều đảm bảo cho mỗi ngôi đền có vị trí
văn hoá-xã hội ở địa bàn dân cƣ mà nó toạ lạc.
Từ đó cần phải xem xét lại việc quy hoạch xây dựng đền tƣởng niệm để tìm ra
phƣơng hƣớng và giải pháp cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả và giá trị của chúng.
Kết luận 3: Trong việc xác định định hƣớng và giải pháp cải tiến mô hình quy
hoạch không gian kiến trúc cảnh quan ngôi đền thời hiện đại, cần đƣa vào diện xem
xét, cân nhắc và giải quyết thoả đáng các yếu tố chủ yếu sau: Nhu cầu về giáo dục
truyền thống yêu nƣớc- phổ cập tri thức; nhu cầu về tâm linh và lễ nghi, về lễ hội;
khả năng phối kết hợp các hình thức nghệ thuật tạo hình hiện đại với các hình thức
thờ cúng cổ truyền; các mối liên hệ giữa kiến trúc ngôi đền và môi trƣờng cảnh
quan, với môi trƣờng xã hội; các tiêu chí đánh giá hiệu quả mô hình ngôi đền tƣởng
niệm trong cuộc sống đƣơng đại; vấn đề sử dụng các nguồn đầu tƣ tài chính và sự
hợp lý trong việc này vv...
Kết luận 4: Mô hình phù hợp và hợp lý cho việc quy hoạch không gian kiến
trúc cảnh quan của một ngôi đền thời nay phải là sự kết hợp, giải quyết thoả đáng
mối quan hệ giữa nhu cầu giáo dục tƣ tƣởng – truyền thống – văn hoá với nhu cầu
về tâm linh và tình cảm của ngƣời dân; khai thác có cân nhắc mẫu hình kiến trúc
đền cổ truyền, trong đó có việc hạn chế sử dụng các thủ pháp và hình thức bài trí cổ
và cũ; giảm bớt dần yếu tố thờ cúng và tăng dần nội dung làm rõ ý nghĩa và tôn
vinh các nhân vật là đối tƣợng đƣợc thờ tụng; tổ chức không gian kiến trúc có tính
tới các hoạt động văn hoá tƣơng ứng và đa dạng; tăng cƣờng sử dụng ngôn ngữ
nghệ thuật tạo hình mới trong sự ăn nhập với kiến trúc mang tính kế thừa; tạo lập
mối liên hệ khăng khít giữa các công trình kiến trúc và môi trƣờng, hƣớng tới
những tác phẩm kiến trúc phong cảnh; chú trọng chất lƣợng và hiệu quả kiến trúc
nghệ thuật hơn là quy mô và lạm dụng sự phô trƣơng vv...