Tải bản đầy đủ
Hình 1.15: Mô hình H323 tương quan với mô hình OSI

Hình 1.15: Mô hình H323 tương quan với mô hình OSI

Tải bản đầy đủ

H323 cung cấp khả năng truyền dẫn audio, video, thông tin điều khiển. Dữ
liệu bao gồm hình ảnh, fax, dữ liệu máy tính và các loại dữ liệu khác. Nó có thể
cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ và dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Cấu
trúc H323 có thể dược sử dụng trong mạng LAN hoặc mạng gói diện rộng, bất kì
một mạng gói không tin cậy (không đảm bảo chất lượng dịch vụ), hoặc có độ trễ
cao đều có thể được dùng cho H323.
SIP
Vào năm 1999, IETF đưa ra tiêu chuẩn báo hiệu riêng cho mình gọi là
Session Initiation Protocol (SIP). SIP là giao thức báo hiệu tầng ứng dụng cho
việc khởi tạo, thay đổi và kết thúc các phiên media, bao gồm các cuộc gọi thoại
Internet và hội nghị đa phương tiện. Cũng giống như H323 nó dựa trên cấu trúc
phân tán.
SIP dựa trên ý tưởng và cấu trúc của SMTP và HTTP. Nó hoạt động theo cơ
chế client - server, các yêu cầu được bên gọi (client) đưa ra và bên bị gọi (server)
trả lời. Về cơ bản SIP là một giao thức hướng văn bản và gần gống như HTTP
nhưng không phải là sự mở rộng của HTTP.

Hình 1.16: Vị trí SIP trong chồng giao thức
SIP thực hiện một số nhiệm vụ trong suốt một phiên của hai phía (gọi và bị gọi):
-

Định vị server: Xác định hệ thống đầu cuối cho truyền thông thoại

-

Các khả năng của User: Xác định các phương tiện và các tham số của
phương tiện sẽ được dùng
Thiết lập cuộc gọi: Rung chuông, thiết lập các tham số cuộc gọi cho cả hai

-

phía gọi và bị gọi
Kiểm soát cuộc gọi: chuyển và kết thúc cuộc gọi

-

28

28

1.5.2 BICC, SIP-T và SIP-I
BICC
BICC do ITU-T phát triển từ năm 1999. Mục đích của nó là để xác định một
giao thức cho truyền thông giữa các server hay MGC, độc lập với các loại tải tin.
Do vậy nó cho phép các nhà vận hành mạng chuyển được các dịch vụ thoại từ
mạng TDM sang mạng gói. Với mong muốn thích ứng 100% với mạng hiện tại
và làm việc trên bất cứ môi trường nào khác để truyền thoại với chất lượng chấp
nhận được.
Ta có thể tóm tắt về BICC như sau:
BICC CS1 xuất hiện 6/2000 hỗ trợ VoATM (Voice over ATM) đến BICC

-

CS2 xuất hiện 7/2001 hỗ trợ cả VoATM và VoIP
Tương thích đầy đủ với giao thức SS7/ISUP. Hỗ trợ đầy đủ các dịch vụ

-

ISUP do vậy có thể sử dụng lại mạng SS7 đang tồn tại
Dễ dàng được mang qua IP nhờ sử dụng SIGTRAN hay “circuit

-

emulation”
-

Được lựa chọn bởi 3GPP (cho hệ thống ứng dụng di động)

-

Thích ứng tốt với các hệ thống báo hiệu khác như SIP và H323
SIP-T
Là sự mở rộng của SIP để hỗ trợ các dịch vụ thoại thông thường. Có thể
coi như sau:
SIP-T = Tập con của SIP+SIP mở rộng để tương tác trong suốt với mạng
PSTN.
Cụ thể hơn thì SIP-T gồm có SIP thông thường trong mạng IP và quá trình
đóng gói ISUP để chuyển thông tin báo hiệu tử mạng TDM sang truyền trên
mạng gói sử dụng giao thức SIP.
Minh hoạ hoạt động của SIP-T
SIP-I
SIP-I là tiêu chuẩn được phát triển bởi ITU-T dựa trên SIP của IETF. Nó
không cung cấp một cách chi tiết, nhưng lại tạo ra cơ hội tốt hơn để liên kết hoàn

29

29

hảo giữa các giải pháp của các nhà cung cấp khác nhau. Một bản nháp được đưa
ra trong khuyền nghị Q912.5 của ITU-T và đã được thông qua vào 12/3/2004.
1.5.3 MGCP, H248/MEGACO
MGCP
MGCP là một giao thức dùng để điều khiển các Gateway thoại nhờ phần tử
điều khiển cuộc gọi bên ngoài được gọi là bộ điều khiển Media hay Call agent.
-

MGCP do IETF phát triển và được sử dụng rộng rãi cho các giải pháp cáp

-

Mô hình kết nối dựa trên các điểm cuối và các kết nối

-

Là giao thức kiểu master - slaver, khác với SIP và H323 (là giao thức peer
- to - peer). Phối hợp hoạt động tốt với SIP và H323
Được sử dụng giữa Call Agent và Media server

-

H248/MEGACO
Bên cạnh MGCP do IETF phát triển thì ITU-T cũng phát triển giao thức MDCP
(media device control protocol). Sau đó hai tổ chức này đã thoả thuận và đi đến
thống nhất một giao thức gọi là MEGACO hay H248 (theo cách gọi của ITU-T).
-

Mô hình kết nối dựa trên các termination và context

-

Các gói được định nghĩa trong các phụ lục riêng (các RFC riêng)

-

Các lớp ứng dụng lớn hơn cho hội nghị đa bên và các cuộc gọi đa phương tiện

-

Hiệu quả hơn và mở hơn cho các tiến trình trong tương lai mà không bị
phá vỡ

1.5.4 SIGTRAN
SIGTRAN là một nhóm làm việc của IETF nghiên cứu việc truyền tải báo
hiệu PSTN (báo hiệu SS7 dựa trên chuyển mạch gói) qua mạng IP. Nhóm này
thực hiện công việc: Cung cấp tương tác giữa hai mạng PSTN và mạng IP, cho
phép truyền báo hiệu PSTN trong mạng IP, điển hình là VoIP. Công việc chính
của nhóm là nghiên cứu truyền báo hiệu giữa các Gateway (SG và MGC) nhằm
cung cấp khả năng cho MGC định vị tài nguyên trên mạng.
Kiến trúc Sigtran gồm 3 thành phần chính:
-

Tầng IP chuẩn

-

Tầng vận chuyển: Với giao thức truyền tải báo hiệu SCTP để truyền báo
hiệu tin cậy
30

30

Tầng thích ứng: Hỗ trợ các hàm nguyên thuỷ xác định yêu cầu bởi một

-

giao thức ứng dụng báo hiệu riêng. Một số giao thức thích ứng được định nghĩa:
M2UA, M3UA, M2PA, SUA.
 M2UA: Kết nối tới các thiết bị cũ mà không cần yêu cầu số SP mới
 M2PA và M3UA: Kết nối giữa các điểm báo hiệu cho phép IP
 SUA: Cho phép kết nối với các điểm báo hiệu cho phép IP với các ứng dụng

TCAP
 IUA: Truyền báo hiệu thuê bao tới Softswitch

1.5.5 APIs và INAP
INAP là giao thức ứng dụng mạng thông minh. Nó hỗ trợ các dịch vụ mạng
thông minh trên nền NGN. Nó được dùng cho truyền báo hiệu dịch vụ IN giữa
Call server và Feature server.
API là giao diện chương trình ứng dụng. Thông qua giao diện này nhà cung
cấp dịch vụ có thể tương tác với Feature server để kiến tạo nên dịch vụ mới một
cách linh hoạt trên nền mạng hiện có mà không cần thay đổi thiết bị mạng. Có
giao diện này giúp cho quá trình triển khai các dịch vụ cũng đơn giản và nhanh
chóng hơn.
1.5.6 RTP và RCTP
RTP
RTP là giao thức truyền tải thời gian thực hỗ trợ việc truyền thông tin Media
trong hệ thống H323. Cụ thể là RTP hỗ trợ thực hiện trao đổi bản tin hai chiều từ
đầu đến cuối theo thời gian trên mạng Unicast hay Muticast. Các dịch vụ truyền
tải và đóng mở gói bao gồm: nhận diện tải, sắp xếp đúng thứ tự gói tin, chuẩn
hoá thới gian tín hiệu đòi hỏi thời gian thực dựa vào tem thời gian và các từ giám
sát. RTP dựa vào nhiều cơ chế khác biệt và các lớp thấp hơn để đảm bảo truyền
đúng thời hạn, chiếm giữ tài nguyên, đảm bảo độ tin cậy và QoS.
RTCP
RTCP là giao thức điều khiển truyền thời gian thực, làm cơ sở điều khiển
tới các thành phần của tệp, sử dụng cơ chế phân phối giống với gói dữ liệu.
Các giao thức lớp dưới phải cung cấp việc phối hợp gói dữ liệu và điều khiển.
RTCP giám sát việc gửi dữ liệu cũng như diều khiển và nhận dạng dịch vụ.
31

31

RTP luôn sử dụng cổng UDP chẵn, còn RTCP sử dụng cổng UDP lẻ ngay trên
cổng cho RTP của nó.
1.6 Các công nghệ nền tảng cho NGN
Ngày nay do yêu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng dịch vụ đã
thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của thị trường công nghệ điện tử - tin học viễn thông. Những xu hướng phát triển công nghệ đã và đang tiếp cận nhau, đan
xen lẫn nhau nhằm cho phép mạng lưới thoả mãn tốt hơn các nhu cầu của khách
hàng trong tương lai.
Theo ITU có hai xu hướng tổ chức mạng chính:
-

Hoạt động kết nối định hướng (CO)

-

Hoạt động không kết nối (CL)
Tuy vậy hai phương thức phát triển này đang dần tiếp cận và hội tụ dẫn đến
sự ra đời của của công nghệ ATM/IP. Sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ và
các công nghệ mới tác động trực tiếp đến sự phát triển cấu trúc mạng.

1.6.1 IP
IP là giao thức chuyển tiếp gói tin. Việc chuyển tiếp gói tin được thực hiện
theo cơ chế phi kết nối. IP định nghĩa cơ cấu đánh số, cơ cấu chuyển tin, cơ cấu
định tuyến và các chức năng điều khiển ở mức thấp (ICMP). Gói tin IP gồm địa
chỉ của bên nhận, địa chỉ là số duy nhất trong toàn mạng và mang đầy đủ thông
tin cần cho việc chuyển gói tới đích.
IP là giao thức chuyển mạch có độ tin cậy và khả năng mở rộng cao. Tuy
nhiên việc điều khiển lưu lượng rất khó thực hiện do phương thức định tuyến
theo từng chặng. Mặt khác IP cũng không hỗ trợ chất lượng dịch vụ.
1.6.2 ATM
Công nghệ ATM dựa trên cơ sở của phương pháp chuyển mạch gói. Thông
tin được nhóm vào các gói tin có độ dài cố định ngắn; trong đó vị trí gói không
phụ thuộc vào đồng hồ đồng bộ và dựa trên nhu cầu bất kỳ của kênh cho trước.
Các chuyển mạch ATM cho phép hoạt động với nhiều tốc độ và dịch vụ khác
nhau. ATM có hai đặc điểm quan trọng:
32

32

ATM sử dụng các gói có kích thước nhỏ và cố định gọi là các tế bào ATM.

-

Các tế bào nhỏ với tốc độ truyền cao sẽ làm cho trễ truyền lan và biến động trễ
giảm đủ nhỏ đối với các dịch vụ thời gian thực, cũng tạo điều kiện cho việc hợp
kênh ở tốc độ cao dễ dàng hơn.
ATM có khả năng nhóm một số kênh ảo thành một đường ảo nhằm giúp

-

cho công việc định tuyến được dễ dàng
Quá trình chuyển giao các tế bào qua tổng đài ATM cũng giống như chuyển
giao gói qua router. Tuy nhiên ATM có thể chuyển mạch nhanh hơn vì nhãn gắn
trên cell có kích thước cố định và nhỏ hơn IP, kích thước bảng định tuyến nhỏ
hơn nhiều so với của IP router. Việc này thực hiện trên các thiết bị phần cứng
chuyên dụng nên dung lượng tổng đài ATM thường lớn hơn dung lượng IP router
truyền thống.
1.6.3 IP Over ATM
IP over ATM là một kỹ thuật xếp chồng, nó xếp IP lên ATM; giao thức
của hai tầng hoàn toàn độc lập với nhau, giữa chúng phải nhờ một loại giao
thức nữa để nối thông như NHRP, ARP…. Điều đó hiện nay không được sử
dụng rộng rãi trong thực tế.

1.6.4 MPLS
MPLS là kỹ thuật chuyển mạch đa giao thức nhãn. Phương pháp này đã dung
hợp một cách hữu hiệu năng lực điều khiển lưu lượng của thiết bị chuyển mạch
với tính linh hoạt của bộ định tuyến.
MPLS là công nghệ chuyển mạch IP có nhiều triển vọng. Với tính chất cơ
cấu định tuyến của mình, MPLS có khả năng nâng cao chất lượng dịch vụ của
mạng IP truyền thống. Bên cạnh đó thông lượng của mạng sẽ được cải thiện một
cách rõ rệt. Tuy nhiên độ tin cậy là một vấn đề thực tiễn có thể khiến việc triển
khai MPLS trên mạng bị chậm lại.

33

33