Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG II: DỊCH VỤ TRONG NGN

CHƯƠNG II: DỊCH VỤ TRONG NGN

Tải bản đầy đủ

Như đã đề cập ở các phần trước, NGN là sự tập trung của ba loại mạng
chính: mạng thoai PSTN, mạng di động và mạng chuyển mạch gói (mạng
Internet). Cấu trúc này phân phối toàn bộ các phương thức truy nhập, hầu hết các
công nghệ và ứng dụng mới. Từ đó tạo ra nhiều dịch vụ mới.

Hình 2.2: Cấu trúc NGN dạng modun
Có ba loại dịch vụ chủ yếu trong NGN: dịch vụ thời gian thực và thời gian
không thực, dịch vụ nội dung, dịch vụ quản lý. Các dịch vụ này giúp cho các
nhà khai thác có sự điều khiển, bảo mật và độ tin cậy tốt hơn đồng thời giảm
chi phí vận hành. Nhờ đó, các nhà cung cấp dịch vụ có thể nhanh chóng có
nguồn thu mới.
Xây dựng trên các thành phần mở và được module hóa, trên các giao thức
chuẩn và các giao diện mở, NGN đã trở thành một phương tiện thực hiện mục
đích là cho phép kết nối giữa con người và máy móc ở bất cứ khoảng cách nào.
Nói cách khác, NGN có khả năng cung cấp các yêu cầu đặc biệt của tất cả
khách hàng công ty, văn phòng ở xa, văn phòng nhỏ, nhà riêng,… Nó hợp nhất
thoại hữu tuyến và vô tuyến, dữ liệu, video,… bằng cách sử dụng chung một
35

35

lớp truyền tải gói. Các lớp dịch vụ của NGN linh hoạt, chi phí hiệu quả và có
khả năng mở rộng hơn đối với các dịch vụ trước đây.
2.2 Nhu cầu NGN của các nhà cung cấp dịch vụ
Mạng Internet đang xử lý khá tốt tất cả các dịch vụ chúng ta yêu cầu. Giải
pháp của mạng Internet đơn giản là sử dụng các thiết bị đầu cuối thuê bao CPE
(Customer Premise Equipment) tiên tiến như PC, smart phone, set-top-box,…
Dịch vụ được thực hiện tại các hệ thống đầu cuối. Các xí nghiệp, các công ty
phần mềm và một số trường Đại học, trung học sẽ phát triển các ứng dụng và tải
chúng từ mạng Internet đến các thiết bị CPE. Các yêu cầu đối với mạng truyền
tải công cộng là tính tin cậy và băng thông truyền dẫn cao. Như vậy tại sao các
nhà cung cấp dịch vụ lại quan tâm đến dịch vụ NGN? Tại sao họ không theo
phương thức kinh doanh cũ? Sau đây là một số lý do tiêu biểu:
Nhà cung cấp có thể tồn tại với phương thức cũ (nếu họ may mắn), tuy
nhiên chắc chắn họ sẽ không thành công. Các nhà cung cấp đang bắt buộc
cạnh tranh về giá để đảm bảo thu nhập. Trong lúc đó, các đối thủ cạnh tranh
đưa ra các dịch vụ hấp dẫn để được các khách hàng “béo bở” nhất. Do đó nếu
nhà cung cấp dịch vụ muốn thành công trong thời đại mới, họ buộc phải thêm
giá trị vào các dịch vụ truyền thống của mình. NGN hỗ trợ các dịch vụ mới
tiên tiến nên cho phép họ giữ được các khách hàng quan trọng và mở rộng thị
trường trong nhiều khu vực mới.
Mạng lưới hiện nay không thể cung cấp tất cả các yêu cầu của khách hàng.
Một điều không thể nghi ngờ là các dịch vụ của một vài khách hàng đang chuyển
dần ra biên mạng. Nhà cung cấp mạng công cộng không thể chống lại khuynh
hướng này. Tuy nhiên họ không chấp nhận thất bại. Kinh doanh các dịch vụ
thông tin mới trở thành một ngành công nghiệp có thể thu về hàng tỷ đô la. Cuối
cùng có một thực tế là một số người muốn sử dụng các dịch vụ mới trên nền
CPE, trong khi số khác lại thích dịch vụ trên nền mạng.
Các dịch vụ trên nền mạng có nhiều ưu điểm. Với một số nhỏ các dịch vụ
đơn giản không yêu cầu làm việc giữa khách hàng với nhau, các dịch vụ trên nền
CPE có thể hiệu quả. Tuy nhiên, khi số lượng khách hàng làm việc với nhau tăng,
36

36

các dịch vụ trên nền mạng tỏ ra có nhiều lợi thế hơn. Ví dụ, các ứng dụng trên
nền mạng linh hoạt hơn và có khả năng mở rộng hơn so với các dịch vụ trên nền
CPE. Với các ứng dụng trên nền CPE, thiết bị CPE cần phải tinh vi, phức tạp hơn
(và do đó, đắt tiền hơn) để đảm bảo các yêu cầu về các ứng dụng tiên tiến hơn.
Giải pháp trên nền mạng cho phép chia sẻ tài nguyên và dễ dàng mở rộng để đáp
ứng các yêu cầu đó. Thứ hai, dịch vụ trên nền CPE khó khăn trong việc cung cấp
các dịch vụ đối với thuê bao di động. Nếu khách hàng muốn truy nhập vào các
dịch vụ của họ tại những địa điểm khác nhau, họ cần phải mang thiết bị CPE theo
hay tải phần mềm từ vị trí mới, lãng phí thời gian và tài nguyên mạng. Với các
dịch vụ trên nền mạng, khách hàng có thể truy nhập vào các dịch vụ của họ bất
kể từ vị trí nào. Cuối cùng, các vấn đề khách hàng quan tâm như tính cước, quản
lý cấu hình, dự phòng và các dạng quản lý khác được xử lý dễ dàng hơn đối với
các dịch vụ trên nền mạng.
NGN sẽ cho phép các nhà khai thác cung cấp với chi phí hiệu quả của các
dịch vụ mới phức tạp hơn bằng cách xây dựng một lõi liên hệ với các dịch vụ
truyền tải truyền thống. Thêm vào đó, việc hợp nhất các ứng dụng NGN làm
giảm chi phí bằng cách loại bỏ các nhược điểm của các dịch vụ riêng lẻ hiện nay.
NGN còn giảm thời gian thương mại hóa và xoay vòng vốn nhanh hơn khi cung
cấp các dịch vụ mới. Và sau cùng, NGN mở rộng các dịch vụ tiên tiến, tăng khả
năng cạnh tranh và mở rộng khả năng thâm nhập thị trường của họ.
2.3 Yêu cầu của khách hàng
Công ty lớn


Dịch vụ VPN cho kết nối nội bộ, và dịch vụ truyền dẫn (chẳng hạn như leased
line) kết nối với bên ngoài. Có nhu cầu quản lý dịch vụ và mạng.



Dung lượng băng thông lớn, phân phối băng thông linh hoạt.



Yêu cầu QoS là bắt buộc, có sự dự phòng.
Công ty trung bình



Dịch vụ VPN cho kết nối nội bộ và các dịch vụ văn phòng kết nối với bên ngoài
như: Thoại, Internet, fax,…



Dung lượng băng thông trung bình.
37

37



QoS: Quan trọng
Công ty nhỏ, văn phòng đặt tại nhà



Dịch vụ kết nối từ xa, dịch vụ văn phòng như thoại, fax, dữ liệu, Internet,..



Dung lượng băng thông trung bình.



QoS: Ít quan trọng.
Thuê bao tại nhà



Dịch vụ kết nối từ xa và các dịch vụ tại nhà như thoại, Internet, di động, giải trí,
điều khiển các thiết bị trong nhà,…



Dung lượng băng thông nhỏ.



QoS: Ít quan trong.
2.4 Dịch vụ NGN
2.4.1 Xu hướng các dịch vụ trong tương lai
Để xác định được các dịch vụ trong mạng thế hệ sau cũng như chiến
lược đầu tư của các công ty, xu hướng phát triển các dịch vụ trong tương lai
là vấn đề rất cần xem xét.
+ Trước hết chúng ta cần quan tâm đến xu hướng của dịch vụ thoại. Đây là
dịch vụ phổ biến, lâu đời và thu nhiều lợi nhuận nhất từ những ngày đầu cho đến
nay. Do đó, dịch vụ thoại truyền thống sẽ tiếp tục tồn tại trong thời gian dài. Sau
đó, một phần dịch vụ truyền thống này chuyển sang thông tin di động và thoại
qua IP.
+ Đối với dịch vụ truyền thông đa phương tiện, hiện nay H.323 đã là môi
trường cho giải pháp thoại qua giao thức IP và các dịch vụ đa phương tiện tương
đối đơn giản. Tuy nhiên, sau đó SIP sẽ thay thế cho H.232 do SIP có nhiều ưu
điểm hơn và thích hợp với các dịch vụ truyền thông đa phương tiện phức tạp.
+ Trong tương lai, tính cước dịch vụ theo nội dung và chất lượng, không theo
thời gian sẽ chiếm ưu thế.
+ Nhiều dịch vụ và truy nhập ứng dụng thông qua các nhà cung cấp dịch vụ
và truy nhập ứng dụng sẽ phát triển mạnh. Các dịch vụ leased line, ATM, Frame
Relay hiện nay sẽ tiếp tục tồn tại thêm một thời gian nữa do các tổ chức kinh
doanh không muốn thay đổi thiết bị chỉ vì thay đổi dịch vụ kết nối. Dịch vụ IP38

38

VPN sẽ trở thành một lựa chọn hấp dẫn.
+ Cuối cùng, phương thức truy nhập mạng, ra lệnh, nhận thông tin,… bằng
lời nói (voice portal) sẽ là một chọn lựa trong tương lai. Hiện nay, kỹ thuật
chuyển đổi từ lời nói sang file văn bản và ngược lại đang phát triển mạnh.
2.4.2 Các đặc trưng dịch vụ NGN
Mặc dù thật khó để dự đoán hết các ứng dụng trong tương lai, nhưng chúng
ta có thể chỉ ra các đặc trưng và các khả năng quan trọng của dịch vụ trong môi
trường NGN bằng cách xem xét các xu hướng công nghiệp liên quan đến dịch vụ
hiện nay. Một điều chắc chắn là chúng ta đang dịch chuyển từ mạng chuyển
mạch kênh, trên nền TDM sang mạng dựa trên chuyển mạch gói, dựa trên truyền
tải tế bào hay khung. Tuy nhiên các thay đổi này là trong mạng truyền tải và ở
đây chúng ta chỉ xem xét ở mức dịch vụ.
Các nhà cung cấp dịch vụ mạng truyền thống đã cung cấp các dịch vụ với
khuynh hướng thoại băng hẹp, bằng một kết nối đơn điểm-điểm trong mỗi cuộc
gọi trên một thị trường rộng lớn giữa các thuê bao đầu cuối, với các khả năng sử
dụng các dịch vụ giá trị gia tăng khác nhau. Dù sao, các dịch vụ này đã làm thay
đổi nhanh chóng đến nền kinh tế thế giới và thông tin cũng được xem như một
nguồn tài nguyên cơ sở.
Trong khi các dịch vụ hiện tại vẫn được các nhà cung cấp giữ lại, thì khách
hàng lại sẽ hướng đến các dịch vụ đa phương tiện băng rộng và các dịch vụ mang
nhiều thông tin. Khách hàng có thể tương tác với nhau thông qua mạng nhờ các
thiết bị CPE tinh vi và có thể chọn trên phạm vi rộng chất lượng dịch vụ (QoS)
và dải tần. Trong tương lai, mạng thông minh sẽ không chỉ tạo ra các tuyến kết
nối bằng cách dựa trên cơ sở dữ liệu đơn giản mà còn có thể mang nhiều thông
tin rộng hơn như: quản lý session đa phương tiện, các kết nối đa công nghệ, điều
khiển/quản lý thông minh, bảo mật cao, các dịch vụ chỉ dẫn trực tuyến, các phần
tử giám sát,…
Sự phát triển của các dịch vụ truyền thông hiện nay sẽ hướng tới việc các
nhà cung cấp dịch vụ phải có sự mềm dẻo, linh hoạt để phục vụ được cả thị
trường lớn và nhỏ. Các quyết định về việc cung cấp dịch vụ của họ có thể gặp
39

39

nhiều vấn đề phải giải quyết như giá cả, việc đóng gói, tiếp thị cũng như sự tiện
ích của dịch vụ thực tế khi cung cấp. Khi có nhiều phương tiện truyền tin, nhà
cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp thiết bị và các doanh nghiệp thương mại liên
quan đến việc cung cấp dịch vụ, liên mạng và các hệ thống thương mại sẽ trở nên
càng quan trọng.
Mục tiêu chính của dịch vụ NGN là cho phép khách hàng có thể lấy thông
tin họ muốn ở bất kỳ dạng nào, trong bất kỳ điều kiện nào, tại mọi nơi và dung
lượng tùy ý. Dựa trên các khuynh hướng được đề cập ở trên, sau đây là một số
đặc tính dịch vụ quan trọng trong môi trường NGN:
+ Liên lạc thông tin rộng khắp, thời gian thực, đa phương tiện, đảm bảo độ
tin cậy, thân thiện trong việc liên kết các thuê bao, truy nhập tốc độ cao và truyền
tải thông tin với bất kỳ phương tiện nào, vào mọi lúc, tại mọi nơi,…
+ Nhiều thực thể và các phần tử mạng thông minh được phân bố trên toàn
mạng. Nó bao gồm các ứng dụng cho phép truy nhập và điều khiển các dịch vụ
mạng. Nó cũng có thể thực hiện các chức năng cụ thể thay thế cho nhà cung cấp
dịch vụ hoặc mạng. Ta có thể xem nó như một tác tử quản lý có thể thực hiện
giám sát tài nguyên mạng, tập hợp các số liệu,…
+ Dễ dàng sử dụng. Khách hàng không bị ảnh hưởng từ các quá trình tập
trung, xử lý và truyền dẫn thông tin phức tạp của hệ thống. Nó cho phép khách
hàng truy xuất và sử dụng các dịch vụ mạng một cách đơn giản hơn, bao gồm các
giao diện người dùng cho phép tương tác tự nhiên giữa khách hàng và mạng.
Khách hàng được cung cấp các thông tin hướng dẫn, các tùy chọn, các tương tác
quản lý xuyên suốt các dịch vụ. Ngoài ra nó còn cung cấp các menu khác nhau
cho những người chưa có kinh nghiệm ngược lại với những người đã có kinh
nghiệm, và cung cấp một môi trường thống nhất cho các dạng thông tin.
+ NGN cho phép khách hàng quản lý hồ sơ các nhân, tự dự phòng các dịch
vụ mạng, giám sát thông tin tính cước, cá nhân hóa giao diện người dùng, tạo ra
và dự phòng các ứng dụng mới.
+ Với việc quản lý thông tin thông minh, NGN giúp người dùng quản lý sự
quá tải của thông tin bằng cách cung cấp cho họ khả năng tìm, sắp xếp và lọc các
40

40

bản tin hoặc dữ liệu, quản lý chúng cho mọi phương tiện.
2.4.3 Các dịch vụ chính trong NGN
Trong thời gian hoàn thành tài liệu này, NGN vẫn đang trên đường triển
khai. Do vậy, chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định hết tất cả
các loại hình dịch vụ mà NGN có khả năng cung cấp trong thời gian tới. Rất
nhiều dịch vụ, một số đã sẵn sàng, một số khác chỉ ở mức khái niệm trong giai
đoạn đầu của quá trình triển khai NGN. Trong khi một số dịch vụ có thể được
cung cấp từ mặt bằng sẵn có, một số khác được cung cấp từ khả năng báo hiệu,
quản lý và điều khiển của NGN. Mặc dù các dịch vụ mới là động lực chính tạo ra
NGN, nhưng lợi nhuận của NGN trong giai đoạn đầu vẫn do các dịch vụ truyền
thống mang lại. Do đó, các dịch vụ truyền thống được trang trải cho mạng, trong
khi các dịch vụ mới phục vụ cho sự phát triển sau này.
Hầu hết các dịch vụ truyền thống là các dịch vụ dựa trên cơ sở truy nhập/
truyền dẫn/ định tuyến/ chuyển mạch, dựa trên cơ sở khả năng kết nối/ tài nguyên
và điều khiển phiên, và các dịch vụ giá trị gia tăng khác. NGN có khả năng cung
cấp phạm vi rộng các loại hình dịch vụ, bao gồm:
 Các dịch vụ tài nguyên chuyên dụng như: cung cấp và quản lý các bộ chuyển mã,

các cầu nối hội nghị đa phương tiện đa điểm, các thư viện nhận dạng tiếng nói,…
 Các dịch vụ lưu trữ và xử lý như: cung cấp và quản lý các đơn vị lưu trữ thông

tin về thông báo, file servers, terminal servers, nền tảng hệ điều hành (OS
platforms),…
 Các dịch vụ trung gian như: môi giới, bảo mật, bản quyền,…
 Các dịch vụ ứng dụng cụ thể như: các ứng dụng thương mại, các ứng dụng

thương mại điện tử,…
 Các dịch vụ cung cấp nội dung mà nó có thể cung cấp hoặc môi giới nội dung

thông tin như: đào tạo, các dịch vụ xúc tiến thông tin,..
 Các dịch vụ interworking dùng để tương tác với các dịch vụ khác, các ứng dụng

khác, các mạng khác, các giao thức hoặc các định dạng khác như chuyển đổi EDI
(Electronic Data Interchange).
 Các dịch vụ quản lý, bảo dưỡng, vận hành và quản lý các dịch vụ và mạng truyền

thông.
41

41

Sau đây là một số dịch vụ mà chúng ta tin rằng nó sẽ chiếm vị trí quan trọng
trong môi trường NGN, bao gồm một phạm vi rộng các dịch vụ từ thoại thông
thường đến các dịch vụ tích hợp phức tạp như Thực tế ảo phân tán (Distributed
Virtual Reality) nhằm nhấn mạnh rằng kiến trúc dịch vụ thế hệ sau sẽ cung cấp
rất nhiều loại hình dịch vụ khác nhau.

Hình 2.3: Một số dịch vu NGN điển hình

2.4.3.1

Dịch vụ thoại (Voice telephony)
NGN vẫn cung cấp các dịch vụ thoại khác nhau đang tồn tại như chờ cuộc
gọi, chuyển cuộc gọi, gọi ba bên, các thuộc tính AIN khác nhau, Centrex, Class,
… Tuy nhiên cần lưu ý là NGN không cố gắng lặp lại các dịch vụ thoại truyền
thống hiện đang cung cấp; dịch vụ thì vẫn đảm bảo nhưng công nghệ thì thay đổi.

2.4.3.2

Dịch vụ dữ liệu (Data Serrvice)
Cho phép thiết lập kết nối thời gian thực giữa các đầu cuối, cùng với các đặc
tả giá trị gia tăng như băng thông theo yêu cầu, tính tin cậy và phục hồi nhanh kết
nối, các kết nối chuyển mạch ảo (SVC- Switched Virtual Connection), và quản lý
dải tần, điều khiển cuộc gọi,… Tóm lại các dịch vụ dữ liệu có khả năng thiết lập
kết nối theo băng thông và chất lượng dịch vụ QoS theo yêu cầu.
2.4.3.3 Dịch vụ đa phương tiện (Multimedia Service)
Cho phép nhiều người tham gia tương tác với nhau qua thoại, video, dữ liệu.
Các dịch vụ này cho phép khách hàng vừa nói chuyện, vừa hiển thị thông tin.
Ngoài ra, các máy tính còn có thể cộng tác với nhau.

42

42

2.4.3.4 Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN)
Thoại qua mạng riêng ảo cải thiện khả năng mạng, cho phép các tổ chức
phân tán về mặt địa lý, mở rộng hơn và có thể phối hợp các mạng riêng đang tồn
tại với các phần tử của mạng PSTN.
Dữ liệu VPN cung cấp thêm khả năng bảo mật và các thuộc tính khác mạng
của mạng cho phép khách hàng chia sẻ mạng Internet như một mạng riêng ảo,
hay nói cách khác, sử dụng địa chỉ IP chia sẻ như một VPN.

Hình 2.4: Dịch vu VPN
2.4.3.5 Tính toán mạng công cộng (PNC Public Network Computing)
Cung cấp các dịch vụ tính toán dựa trên cơ sở mạng công cộng cho thương
mại và các khách hàng. Ví dụ nhà cung cấp mạng công cộng có thể cung cấp khả
năng lưu trữ và xử lý riêng ( chẳng hạn như làm chủ một trang web, lưu trữ/ bảo
vệ/ dự phòng các file số liệu hay chạy một ứng dụng tính toán). Như một sự lựa
chọn, các nhà cung cấp dịch vụ mạng công cộng có thể chung cấp các dịch vụ
thương mại cụ thể (như hoạch định tài nguyên công ty (ERPEnterprise Resource
Planning), dự báo thời gian, hóa đơn chứng thực,…) với tất cả hoặc một phần các
lưu trữ và xử lý xảy ra trên mạng. Nhà cung cấp dịch vụ có thể tính cước theo
giờ, ngày, tuần,… hay theo phí bản quyền đối với dịch vụ.
43

43

2.4.3.6

Bản tin hợp nhất (Unified Messaging)
Hỗ trợ cung cấp các dịch vụ voice mail, email, fax mail, pages qua các giao
diện chung. Thông qua các giao diện này, người sử dụng sẽ truy nhập (cũng như
được thông báo) tất cả các loại tin nhắn trên, không phụ thuộc vào hình thức truy
nhập (hữu tuyến hay vô tuyến, máy tính, thiết bị dữ liệu vô tuyến). Đặc biệt kỹ
thuật chuyển đổi lời nói sang file văn bản và ngược lại được thực hiện ở server
ứng dụng cần phải được sử dụng ở dịch vụ này.

2.4.3.7

Môi giới thông tin (Information Brokering)
Bao gồm quảng cáo, tìm kiếm và cung cấp thông tin đến khách hàng tương
ứng với nhà cung cấp. Ví dụ như khách hàng có thể nhận thông tin trên cơ sở các
tiêu chuẩn cụ thể hay trên các cơ sở tham chiếu cá nhân,…

2.4.3.8

Thương mại điện tử (E-Commerce)
Cho phép khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ được xử lý bằng điện tử trên
mạng; có thể bao gồm cả việc xử lý tiến trình, kiểm tra thông tin thanh toán tiền,
cung cấp khả năng bảo mật,… Ngân hàng tại nhà và đi chợ tại nhà nằm trong
danh mục các dịch vụ này; bao gồm cả các ứng dụng thương mại, ví dụ như quản
lý dây chuyển cung cấp và các ứng dụng quản lý tri thức.
Dịch vụ thương mại điện tử còn được mở rộng sang lĩnh vực di động. Đó
chính là dịch vụ thương mại điện tử di động (mcommerce - Mobile Commerce).
Có nhiều khái niệm khác nhau về m-commerce, nhưng ta có thể hiểu đây là dịch
vụ cho phép người sử dụng tham gia vào thị trường thương mại điện tử (mua và
bán) qua các thiết bị di động cầm tay.

2.4.3.9

Dịch vụ chuyển cuộc gọi (Call Center Service)
Một thuê bao có thể chuyển một cuộc gọi thông thường đến trung tâm phân
phối cuộc gọi bằng cách kích chuột trên một trang web. Cuộc gọi có thể xác định
đường đến một agent thích hợp, mà nó có thể nằm bất cứ đâu thậm chí cả ở nhà
(như trung tâm cuộc gọi ảo - Vitual Call Center). Các cuộc gọi thoại cũng như
các tin nhắn e-mail có thể được xếp hàng giống nhau đến các agent. Các agent có
các truy nhập điện tử đến các khách hàng, danh mục, nguồn cung cấp và thông
tin yêu cầu, có thể được truyền qua lại giữa khách hàng và agent.
44

44

2.4.3.10 Trò chơi tương tác trên mạng (Interactive gaming)
Cung cấp cho khách hàng một phương thức gặp nhau trực tuyến và tạo ra các
trò chơi tương tác (chẳng hạn như video games)

2.4.3.11 Thực tế ảo phân tán (Distributed Virtual Reality)
Tham chiều đến sự thay đổi được tạo ra có tính chất kỹ thuật của các sự kiện,
con người, địa điểm, kinh nghiệm,… của thế giới thực, ở đó những người tham
dự và các nhà cung cấp kinh nghiệm ảo là phân tán về địa lý. Dịch vụ này yêu
cầu sự phối hợp rất phức tạp của các tài nguyên khác nhau.

2.4.3.12 Quản lý tại gia (Home Manager)
Với sự ra đời của các thiết bị mạng thông minh, các dịch vụ này có thể giám
sát và điều khiển các hệ thống bảo vệ tại nhà, các hệ thống đang hoạt động, các
hệ thống giải trí, và các công cụ khác tại nhà. Giả sử như chúng ta đang xem ti vi
và có chuông cửa, không vấn đề gì cả, ta chỉ việc sử dụng điều khiển ti vi từ xa
để xem được trên màn hình ai đang đứng trước cửa nhà mình. Hoặc chẳng hạn
như chúng ta có thể quan sát được ngôi nhà của mình trong khi đang đi xa, hoặc
quan sát được người trông trẻ đang chăm sóc em bé như thế nào khi ta đang làm
việc tại cơ quan.
Ngoài các dịch vụ đã nêu trên còn có rất nhiều dịch vụ khác có thể triển khai
trong môi trường NGN như: các dịch vụ ứng dụng trong y học, chính phủ điện
tử, nghiên cứu đào tạo từ xa, nhắn tin đa phương tiện,… Như vậy các dịch vụ thế
hệ sau là rất đa dạng và phong phú, việc xây dựng, phát triển và triển khai chúng
là mở và linh hoạt. Chính vì vậy nó thuận tiện cho các nhà cung cấp dịch vụ và
ứng dụng triển khai dịch vụ đến cho khách hàng trong môi trường NGN.

45

45