Tải bản đầy đủ
IX. Phân tích khả năng sinh lời của tài sản

IX. Phân tích khả năng sinh lời của tài sản

Tải bản đầy đủ

3.

2,5409

2,5169

0,024

0,954

0,81
0,831
-0,021
-2,527
4.
Mức độ ảnh hưởng
ROA(
)
0,0178×2,5169×0,1689=0,0076
ROA(
) 0,6045×0,024×0,1689= 0,0025
ROA(
-0,6045×2,5409×(-0.021)=0,032
*Đánh giá khái quát:
Tại công ty cổ phần Sữa Việt Nam Vinamilk, trong năm 2014 bình quân sử dụng 1 đồng vốn tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh thì công ty thu được 0,2495 đồng lợi nhuận sau thuế, trong năm 2015 bình quân sử dụng 1 đồng vốn tham
gia và sản suất kinh doanh thì công ty thu được 0,2918 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2015 so với năm 2014, hệ số sinh lời
ròng tài sản đã tăng 0,0423 lần(16,953%). ROA năm 2015 tăng do ảnh hưởng của 3 nhân tố: Chính sách đầu tư, chính sách
quản trị vốn lưu động vat quản trị chi phí. Cần đi ssaau phân tích các nhân tố ảnh hưởng.
*Phân tích nhân tố ảnh hưởng:
+ Thứ nhất,do hệ số đầu tư ngắn hạn: trong điều kiện cố định các nhân tố khác, hệ số đầu tư ngán hạn năm 2015 đã tăng
0,0178 lần làm cho ROA tăng 0,0076 lần. Hệ số đầu tư tăng là do tốc độ tăng của VLĐ nhanh hơn tốc độ tăng của VKD.
Chứng tỏ năm 2015 công ty đã đầu tư mạnh vào tài sản ngắn hạn( năm 2015 TSNH bình quân chiếm 60,45% tổng tài sản
bình quân)
Ảnh hưởng của nhân tố này vừa mang tính chất khách quan và chủ quan. Về khách quan, có thế do giá nguyên vật liệu
đầu vào tăng buộc công ty phải gia tăng dự trữ chiến lược nguyên vật liệu để tránh biến động tăng giá, điều này làm tăng
hàng tồn kho,ngoài ra công ty còn tăng đầu tư tài chính ngắn hạn. Về chủ quan,nó phụ thuộc vào chính sách đầu tư của công
ty trong từng thời ký và trình độ tổ chức, quản lý, sử dụng vốn của công ty.
+ Thứ hai, do số vòng quay vốn lưu động. trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, số vòng quay vốn lưu động năm
2015 đã tăng 0,024 lần làm cho ROA tăng 0,0025 lần. Số vòng quay vốn lưu động tăng là do tốc độ tăng của LCT nhanh hơn
của VLĐ. Ảnh hưởng của nhân tố này vừa mang tính chất khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan,có thể do ảnh hưởng
của áp lực cạnh tranh của công ty với các công ty, giá nguyên liệu đầu vào… Về chủ quan có thể do tình hình tổ chức, quản
lý và sử dụng vốn lưu động của công ty. Mặc dù tốc độ tăng năm 2015 so với năm 2014 không lớn nhưng với quy mô vốn
lớn thì công ty cũng đã tiết kiệm được một lượng VLĐ. Số vòng quay VLĐ tăng cho thấy hiệu suất sử dụng vốn tăng và khả
năng sinh lời tăng. Trong năm 2015,công ty đã tăng hệ số đầu tư ngắn hạn là hợp lý.

44

+ Thứ ba,do hệ số chi phí: trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, hệ số chi phí năm 2015 so với năm 2014 giảm
0,021 lần (2,527%). Nghĩa là so với năm 2014 thì năm 2015 để tạo ra 1 đồng doanh thu công ty đã tiết kiệm được 0.021đòng
chi phí. Hệ số chi phí giảm đã làm ROA tăng 0,032 lần. Hệ số chi phí giảm và nhỏ hơn 0 cho thấy hiệu quả hoạt đọng của
công ty cao và có sự cân đối trong hoạt động, từ đó cho thấy sự phát triển bền vũng của công ty.
Ảnh hưởng của nhân tố này vừa mang tính khách quan và chủ quan. Về khách quan là do sự thay đổi của lãi xuất đi vay.
Các khoản vay ngắn hạn và dài hạn của công ty đều tăng nhưng chi phí lãi vay lại giảm cho thấy lãi suất đi vay trong năm
2015 giảm do đó công ty tiết kiệm được một khoản từ lãi vay. Về chủ quan, do công tác quản lý chi phí của công ty trong
sản xuất, do công ty đã hoạt động lâu năm trong ngành và chiếm thị phần lớn trên thị trường sữa nên công ty co nguồn cung
nguyên vật liệu tương đối ổn định, giá sữa nguyên liệu giảm, dây chuyền sản xuất hiện đại cùng với công tác quản lý,điều
hành sản xuất chuyên nghiệp góp phần làm giảm chi phí. Hệ số chi phí là nhận tố chính làm tăng ROA
Như vậy, năm 2015 công ty đã có chính sách và công tacs quản lý,sử dụng VLĐ cũng như quản lý chi phí hợp lý,hiệu quả
làm cho ROA tăng. Quy mô vốn đầu tư mở rộng kèm theo đó là sự gia tăng thương đối lớn của lợi nhuận sau thuế (tăng
28,037% so với lợi nhuậ sau thuế 2014. Điều này cho thấy vị trí vững vàng của công ty trên thị trường cũng như năng lực
cạnh tranh cao của công ty trong thời kỳ có nhiều đối thủ cạnh tranh như hiện tại. Tuy nhiên ở thời kỳ cạnh tranh mạnh với
nhiều đối thủ trong và ngoài nước như hiện tại, công ty cần tiếp tục có các chiến lược kinh doanh mới, chính sách đầu tư,
quản trị VKD và quản trị chi phí hiệu quả hơn để đảm bảo sự phát triển và bền vững của mình trên thị trường

45

46

X.Phân tích khả năng sinh lời vốn chủ
Bảng phân tích khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu theo tác động của các nhân tố hệ số tự tài trợ(Ht), hệ số đầu tư(Hđ), số vòng
quay vốn lưu động(SVlđ), và hệ số sinh lời hoạt động(ROS).
*Phân tích khái quát:
Tại công ty Cổ phần sữa Việt Nam, hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu năm 2014 là 0,56 tức là với mỗi 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thu
được 0,56 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2014, ROE là 0,5 tức là với mỗi 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra, công ty thu được 0,5 đồng lợi
nhuận sau thuế. Đây là con số khá cao so với trung bình ngành.
Khi so sánh năm 2015 với 2014, thấy ROE của công ty tăng 0,05 lần ứng với tỷ lệ tăng là 17,2%. Đây là mức tăng đáng ngưỡng mộ
khẳng định công ty có khả năng sản xuất kinh doanh hiệu quả, có chỗ đứng trên thị trường mà thực tế đã chứng minh công ty cổ phần
sữa Việt Nam luôn là công ty sữa dẫn đầu về doanh số bán hàng và khẳng định được vị trí số 1 trong ngành công nghiệp sữa trong
nước đặc biệt là sau quá trình cổ phần hóa.
ROE của công ty tăng do cả lợi nhuận sau thuế và vốn chủ tăng, tuy nhiên tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế tăng nhanh hơn tốc độ
tăng của vốn chủ. Cụ thể, lợi nhuận sau thuế tăng với tốc độ là 28,037% trong khi đó vốn chủ bình quân tăng với tốc độ là 9,398%.
*Phân tích chi tiết.
+ Thứ nhất, hệ số tự tài trợ Ht. Hệ số tự tài trợ Ht tác động ngược chiều vơi ROE. Ht năm 2015 là 0,7648, tức là để tài trợ cho một
đồng tài sản, công ty phải dùng 0,7648 đồng vốn chủ sở hữu. Ht năm 2014 là 0,7652 tức là để tài trợ cho một đồng tài sản công ty
phải dùng 0,7652 đồng vốn chủ sở hữu. So với năm 2014, Ht của doanh nghiệp giảm 0,0004 lần(0,05223%). Nguyên nhân giảm Ht có
thể doanh nghiệp muốn huy động vốn vay để đầu tư sản xuất kinh dooanh hơn là sử dụng vốn chủ, tức là doanh nghiệp muốn tận
dụng lợi thế của đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp có thể bị giảm.
+ Thứ hai, hệ số đầu tư Hđ. Hệ số đầu tư Hđ tác động cùng chiều với hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu ROE. Năm 2015, Hđ của doanh
nghiệp là 0,6045 lần trong khi đó năm 2014 là 0,5867 lần. So với năm 2014, Hđ của doanh nghiệp tăng 0,0178 lần(3,0339%) điều này
đã làm cho ROE tăng 0,00989. Qua đây, chúng ta thấy được rằng doanh nghiệp đang có xu hướng đầu tư thêm vào tài sản ngắn hạn.
Mà cụ thể hơm, doanh nghiệp đang đầu tư vào hàng tồn kho.
- Nếu hàng tồn kho là nguyên vật liệu, yếu tố đầu vào, doanh nghiệp cần bỏ ra một khoản chi phí dự trữ, bảo quản hàng tồn kho
đồng thời cũng phải bỏ ra một khoản chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Vì doanh nghiệp là một công ty đặc thù trong
lĩnh vực sản xuất sữa - một sản phẩm có chất lượng ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng nên càng phải có các
biện pháp và công nghệ bảo quản thực sự nghiêm ngặt, cẩn thận để tránh ảnh hưởng tới chất lượng nguyên vật liệu cũng như
chất lượng thành phẩm làm ra.

47

-

Nếu hàng tồn kho là thành phẩm, doanh nghiệp càng cần phải có các biện pháp bảo quản cẩn thận hơn nữa đồng thời doanh
nghiệp cũng cần phải nghiên cứu, đánh giá, phân tích thị trường nhu cầu người tiêu dùng để xác định khối lượng hàng tồn kho
hợp lí nhất. Nếu nhu cầu thị trường cao, dự trữ hàng tồn kho chờ giá cao có thể là một lựa chọn sáng suốt, ngược lại nếu nhu
cầu thị trường giảm, người tiêu dùng không mấy hứng thú với những sản phẩm đó nữa cần có các biện pháp kích cầu, hạ giá
thành xuống để bán hết lượng hàng tồn kho tránh lưu kho quá lớn đặc biệt là với những sản phẩm như sữa có thời gian sử dụng
hữu hạn.

Tuy nhiên, với vị trí là công ty sữa hàng đầu Việt Nam cũng như có những sản phẩm đa dạng, đáp ứng được thị hiếu người tiêu
dùng thì một lượng hàng tồn kho lớn cũng là khá hợp lí.
+ Thứ ba, số vòng quay vốn lưu động SVlđ. SVlđ tác động cùng chiều với ROE. Năm 2015, vốn lưu động của doanh nghiệp quay
được 2,54 vòng trong khi đó con số của năm 2014 là 2,5 vòng. Số vòng quay vốn lưu động tăng 0,04 vòng ứng với tỷ lệ tăng là
1,6%.
Số vòng quay vốn lưu động tăng làm cho ROE tăng 0,00537. Đây là dấu hiệu tốt cho thấy doanh nghiệp vừa mở rộng quy mô đầu
tư vào tài sản ngắn hạn vừa đẩy nhanh tốc độ quay vốn lưu động. Điều này khẳng định doanh nghiệp đã có những biệp pháp cũng
như năng lực quản lý vốn rất tốt, không gây lãng phí vốn mà bù lại sử dụng vốn rất hợp lý góp phần nâng cao năng lực sản xuất
cũng như khả năng sinh lời.
+ Thứ tư, hệ số sinh lời hoạt động ROS. ROS tác động cùng chiều với ROE. ROS năm 2015 là 0,19 lần tức là trong một đồng lưu
chuyển thuần có 0,19 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2014, ROS là 0,17 tức là trong một đồng lưu chuyển thuần có 0,17 đồng lợi
nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này tăng 0,02 lần(11,765%) đã làm cho ROE tăng 0,04. Nguyên nhân tăng lên của ROS là lợi nhuận sau
thuế tăng lên với tốc độ 28,037% lớn hơn tốc độ tăng của lưu chuyển thuần là 14%. Điều này cũng xuất phát từ quá trình doanh
nghiệp mở rộng đầu tư vào tài sản ngắn hạn đồng thời đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn lưu động.
Nói tóm lại, công ty cổ phần sữa Việt Nam xứng đáng là công ty đi đầu trong ngành công nghiệp sữa trong nước và cũng đang trên
con đường vươn ra thế giới với mức sinh lời khá lớn so với trung bình ngành, năng lực quản trị vốn và chi phí tốt đã giúp cho
doanh nghiệp liên tục tăng trưởng. Điềunày góp phần tạo tâm lí yên tâm đối với các chủ thể có lợi ích gắn liền với công ty như chủ
sở hữu, nhà đầu tư, chủ nợ, cổ đông và toàn thể nhân viên. Đặc biệt từ khi cổ phần hóa, giá cổ phiếu của công ty luôn ở mức cao
đồng thời tạo tâm lý tin tưởng cho những chủ thể nắm giữ cổ phiếu công ty.

48