Tải bản đầy đủ
5Tổng kết lại những kết quả hoạt động của các tổ chức TCVM Việt nam

5Tổng kết lại những kết quả hoạt động của các tổ chức TCVM Việt nam

Tải bản đầy đủ

Trang 69

Bảng 3.9: Số lượng khách hàng vay vốn theo từng năm
trong giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: người

Bang 9
Tổ chức
CAFPE BR-VT
CEP
Nhóm M7
TCVM Thanh Hoa
TYM
Tổng
Tăng trưởng

3.5.1.3

2006
6450
64233
30553
5572
22497
129305

2007
7283
74360
31488
4691
25482
143304
11%

2008
7284
107866
21520
5357
33935
175962
23%

2009
8000
134141
31161
6446
40282
220030
25%

2010
9777
164400
24788
9414
54903
263282
20%

Nguồn Tổng hợp từ Mix

Hoạt động của các tổ chức TCVM ngày càng có hiệu quả hơn:

Hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam ngày càng có hiệu quả hơn thông qua
việc nâng cao năng lực làm việc của nhân viên và chuyên môn hóa, tối ưu hóa hoạt
động của tổ chức để giảm chi phí hoạt động của tổ chức.
Năng lực của nhân viên được nâng cao thể hiện qua số lượng khách hàng mà mỗi
nhân viên trong tổ chức có thể phục vụ được, theo như thống kê trong bảng 3.10 thì
trong năm 2010, ngoài BinhMinhCDC và nhóm M7, có thể nhận thấy số lượng
khách hàng mà một nhân viên khai thác được nhìn chung là có tỷ lệ tăng trưởng
dương qua các năm, cho thấy hiệu quả hoạt động của nhân viên trong các tổ chức
TCVM ngày càng được cải thiện.Và con số này cao hơn tỷ lệ trung bình của khu
vực Châu Á Thái Bình Dương năm 2010 là 114 khách hàng / nhân viên (Theo thống
kê của Mix)

Trang 70

Bảng 3.10: Bảng thống kê tỷ lệ khách hàng/nhân viên của các TCTCVM Việt
Nam trong giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: người

Bang 10
Name
Binhminh CDC
% tăng trưởng
CAFPE BR-VT
% tăng trưởng
CEP
% tăng trưởng
Nhóm M7
% tăng trưởng
TCVM Thanh Hoa
% tăng trưởng
TYM
% tăng trưởng
WU Ha Tinh
% tăng trưởng

2006
173
461
340
184
91
155
192

2007
214
24%
520
13%
329
-3%
190
3%
147
62%
162
5%
176
-8%

2008
126
-41%
520
0%
423
29%
184
-3%
122
-17%
174
7%
207
18%

2009
163
29%
571
10%
447
6%
185
0%
124
2%
174
0%
155
-25%

2010
147
-10%
652
14%
485
9%
148
-20%
141
14%
207
19%
237
53%

Nguồn Tổng hợp từ Mix

Việc cải tiến hoạt động, nâng cao hiệu quả của hệ thống được thể hiện qua chỉ số
chi phí hoạt động bình quân cho mỗi giao dịch. Bảng 3.11 thống kê chi phí hoạt
động trung bình cho mỗi khoản vay cho thấy tỷ lệ này giảm dần qua các năm thể
hiện hiệu quả của các bộ máy tổ chức của các tổ chức TCVM ngày càng được cải
thiện. Con số này nhìn chung thấp hơn so với chi phí trung bình của khu vực Châu
Á Thái Bình Dương là 19,59 % trong năm 2010

Trang 71

Bảng 3.11: Tỷ lệ chi phí hoạt động trung bình cho mỗi khoản vay của các
TCTCVM Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: %

Bang 11
Tổ chức
Binhminh CDC
CEP
Nhóm M7
TCVM Thanh Hoa
TYM

2006
2007
23.34%
21.44%
15.49%
16.52%
7,06%
15.66%
15.77%
15.33%
11.69%

2008
22.78%
9.85%
8,09%
14.48%
11.21%

2009
26.43%
9.36%
9,78%
16.71%
11.22%

2010
25.55%
8.88%
9,75%
14.69%
10.40%

Nguồn Tổng hợp từ Mix

3.5.2 Những mặt hạn chế còn tồn tại:
Hoạt động TCVM ở Việt Nam tuy có khởi sắc trong những năm gần đây với hướng
chuyên nghiệp hơn nhưng thực chất thì ngành TCVM tại Việt Nam vẫn còn rất non
trẻ. Do đó còn rất nhiều tồn tại cần giải quyết để tạo điều kiện cho các TCTCVM
phát triển bền vững và chuyên nghiệp hơn

3.5.2.1 Những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động của các tổ chức TCVM
a. Các sản phẩm dịch vụ cung ứng còn nghèo nàn, chưa đa dạng:
Hiện nay các dịch vụ tài chính TCVM được cung cấp tại Việt Nam còn rất ít,
chúng ta có thể tham khảo bảng 3.12 thống kê các dịch vụ TCVM tại Việt Nam hiện
nay. Ngoài các tổ chức tài chính chính thức là ngân hàng NHNo, ngân hàng CSXH
và hệ thống quỹ TDND thì các TCTCVM còn lại có rất ít các hình thức dịch vụ
TCVM phục vụ cho người nghèo.

Bảng 3.12: Số lượng sản phẩm của các TCTCVM Việt Nam

Trang 72

Loại dịch vụ
Tiền gửi cá nhân
Tiền gửi tổ chức
Cho vay, bao thanh toán, chiết khấu
Bảo lãnh
Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, thẻ
Kinh doanh ngoại tệ, bảo hiểm vi
mô, ủy thác, khác….
Tổng số

Bang 12

AGRIBANK
32
7
32
9
43

NHCSXH
12
5
17
2
11

QTDND
12
5
12
2
2

Các TCTCVM
2
0
5
0
0

71

0

0

2

194

47

31

9

(Nguyễn Kim Anh, 2010)

Có thể thấy tại Việt Nam hiện nay mới chỉ có các loại hình dịch vụ cơ bản nhất như
cho vay theo nhóm, trả góp theo thời gian hoặc tiết kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự
nguyện. Các sản phẩm khác như bảo hiểm vi mô thì mới chỉ trong giai đoạn thử
nghiệm ở một vài tổ chức như M7 Ninh Phước, CEP.
b. Tốc độ mở rộng mạng lưới phục vụ quá nhanh.
Chúng ta có thể thấy tỷ lệ tăng trưởng khách hàng hàng năm của các tổ chức TCVM
khoảng 20%, đây là tỷ lệ tăng trưởng cao, biểu hiện của sự mở rộng nhanh chóng
thị trường của các tổ chức TCVM. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn các rủi ro khi thị
trường tăng trưởng quá nhanh như:
-

Việc người nghèo tại nhiều khu vực, nơi việc tiếp cận tín dụng tương đối dễ

dàng sẽ tạo nên rủi ro của việc các hộ nghèo nợ quá nhiều, do đó tăng rủi ro hệ
thống của việc sụp đổ tổ chức TCVM khi các hộ dân không trả được nợ.
-

Không kiểm soát được các khoản vay tái tài chính đơn giản (gia hạn nợ, đảo

nợ), hoặc các khoản vay hiện tại quay vòng; do các nhà cung cấp dịch vụ tài chính
không điều phối và so sánh hồ sơ đầu tư của khách hàng, không có hệ thống đối
chiếu tín dụng hay hệ thống cảnh báo sớm.
c. Hoạt động còn manh mún, nhỏ lẻ:
Mỗi khỏan gửi tiết kiệm trung bình chỉ bằng khoảng 1/2 trung bình của khu vực 35/
65usd

Trang 73

Mỗi khoản vay trung bình cho mỗi khách hàng là 194 chỉ chiếm 2/3 so với 302USD
của khu vực (xem bảng 3.6)
Có thể thấy các tổ chức TCVM Việt Nam đang còn manh mún nhỏ lẻ, do đó độ
chuyên nghiệp chưa cao, nhất là về mặt nhân sự, quản lý
d. Các TCTCVM bán chính thức còn ít khách hàng và danh mục đầu tư cũng ít hơn
so với các tổ chức TCVM tương tự trên thế giới.(Nguyễn Kim Anh, 2010)
Số khách hàng của các tổ chức này chỉ bằng 1/2 so với mức bình quân của các tổ
chức khác trên toàn cầu và bằng 1/3 mức bình quân của các tổ chức tín dụng vi mô
Châu Á, dù được thành lập cùng một thời điểm. Giá trị danh mục khoản vay của các
tổ chức này bằng 1/10 so với mức bình quân của các tổ chức tín dụng vi mô trên thế
giới. Quy mô hoạt động tương đối nhỏ của một số tổ chức TCVM chính thức và hầu
hết các tổ chức TCVM bán chính thức làm tăng cơ cấu chí phí của các tổ chức này
tính trên mỗi khách hàng mà họ phục vụ và làm hạn chế sự phát triển của hiệu quả
kinh tế nhờ quy mô. Hơn nữa, các tài khoản tiền gửi và tài khoản cho vay với số dư
nhỏ làm tăng chi phí giao dịch cộng với việc không có hiệu quả kinh tế nhờ quy mô
khiến cho các tổ chức này tốn nhiều chi phí hơn so với mức đáng ra phải trả. Tác
động này còn mạnh hơn đối với trường hợp các tổ chức TCVM bán chính thức nhỏ
hơn và không dự kiến có khả năng chuyển đổi trong ngắn hạn hoặc trung hạn, hay
thậm chí là không bao giờ có khả năng chuyển đổi.

3.5.2.2 Nguyên nhân của các khuyết điển còn tồn tại:
3.5.2.2.1 Các nguyên nhân nội tại:
- Các sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu, chưa phát triển đa dạng hóa các sản phẩm
phù hợp với nhiều nhu cầu của khách hàng
- Nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, như đã trình bày ở trên, tỷ lệ khách hàng/ nhân
viên tại Việt Nam hiện nay là rất cao so với mức bình quân khu vực. Bên cạnh đó,
các đội ngũ nhân viên ở nông thôn đa số là chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng
quản lý cũng như kiến thức về kinh tế.

Trang 74

- Chưa tự chủ được về mặt tài chính, khả năng huy động vốn không cao, nguồn vốn
chủ yếu dựa vào cáo nguồn tài trợ.
- Hoạt động chưa thật sự chuyên nghiệp, chưa có mô hình quản lý rõ ràng dẫn đến
hiệu quả thấp

3.5.2.2.2 Các nguyên nhân khách quan:
- Sự nhận biết về vai trò và tầm quan trọng của TCVM còn hạn chế trong toàn xã
hội, và ngay cả trong các cơ quan, tổ chức chính phủ cũng chưa thật sự quan tâm
đến tầm quan trọng và sự vận hành của TCVM.
- Chính phủ chưa quan tâm và có định hướng phát triển rõ ràng cho ngành TCVM,
chưa xây dựng được chiến lược phát triển TCVM quốc gia. Do đó các hoạt động
TCVM tại Việt Nam vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ; các TCTCVM hầu hết chỉ hoạt
động dưới dạng các dự án, có thời gian tồn tại ngắn.
- Hành lang pháp lý cho hoạt động của các TCTCVM chưa hoàn thiện, dẫn đến khó
khăn cho các TCTCVM trong hoạt động của mình.
- Việc áp dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế hiện tại chưa được thực hiện tốt. Còn
thiếu những cơ quan và cơ chế giám sát các hoạt động tín dụng của các TCTCVM
một cách hiệu quả

Kết luận chương 3:
Có thể thấy ngành TCVM ở Việt Nam mới chỉ được đặt những nền móng ban đầu,
hầu như các TCTCVM chưa có nhiều cơ hội để có thể phát triển thành TCTCVM
chuyên nghiệp. Các đặc điểm chung nhất của ngành TCVM Việt Nam có thể tóm
tắt lại như sau:
 Chính phủ quan tâm đến xóa đói giảm nghèo, nhưng chưa quan tâm đến việc tạo
ra hành làng pháp lý và các chính sách phù hợp cho phát triển các TCTCVM mà
chỉ chú trọng đến các chương trình tài trợ, ưu đãi cho người nghèo

Trang 75

 Hoạt động TCVM tại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của chính sách bảo trợ
của nhà nước thông qua NHCSXH, nên hoạt động xóa đói giảm nghèo chưa
thực sự hiệu quả, đồng thời tạo áp lực cạnh tranh không công bằng đối với các
TCTCVM khác.
 Thị trường TCVM Việt Nam là rất lớn, tuy nhiên các TCTCVM hoạt động nhỏ,
lẻ, chưa cung cấp được các dịch vụ đa dạng cho người nghèo. Dẫn đến khả năng
tiếp cận TCVM của người nghèo còn rất thấp.

Trang 76

CHƯƠNG 4
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM
4.1Xu hướng phát triển tài chính vi mô
4.1.1 Dịch chuyển dần từ hoạt động từ thiện sang hoạt động kinh doanh:
Quan niệm trước đây cho rằng dịch vụ tín dụng cho người nghèo phải là hoạt động
từ thiện, do chính phủ bao cấp hoặc các tổ chức nhân đạo tài trợ. Quan niệm này
làm cho là quan niệm sai lầm, dẫn đến việc các khoản tín dụng cho người nghèo
được hiểu là các khoản tiền từ thiện, không sinh lời và khả năng thu hồi thấp. Từ đó
dẫn đến các vấn đề tiêu cực trong việc quản lý nguồn vốn cấp cho người nghèo như:
cho vay không đúng đối tượng, tỷ lện nợ quá hạn, nợ xấu cao,... dẫn đến hiệu quá
của nguồn vốn cóa đói giảm nghèo thấp.
Hiện nay, qua kinh nghiệm của các hoạt động TCVM có thể thấy tín dụng cho
người nghèo không còn là hoạt động từ thiện nữa mà nó là hoạt động có thể sinh lời
để các TCTCVM có khả năng hoạt động tự vững; thực tế là người nghèo nếu có cơ
hội họ vẫn có khả năng làm ra tiền và có khả năng sinh lời từ các khoản vay vốn
ban đầu. Do đó các TCTCVM có thể hoạt động như một trung gian tài chính có khả
năng sinh lời, Hoạt động TCVM ngày nay hạn chế tối đa việc bao cấp, trợ giá và
chuyển dần sang xu hướng kinh doanh với sự tham gia của các thành phần tư nhân,
ngoài sư bao cấp của nhà nước.

4.1.2 Mở rộng hoạt động từ dịch vụ tín dụng sang dịch vụ tín dụng - tiết
kiệm - bảo hiểm
Người nghèo không chỉ có nhu cầu về tín dụng vi mô, họ cũng có nhu cầu về các
dịch vụ tài chính khác như tiết kiệm, bảo hiểm. Do đó việc mở rộng thêm các loại
hình dịch vụ tiết kiệm, bảo hiểm là điều tất yếu để tiến đến việc cung cấp các dịch
vụ tài chính hoàn thiện và đầy đủ cho các nhu cầu của người nghèo.

Trang 77

Hình 4.1: Ba thành phần của thị trường tài chính vi mô Figure 3
Tín dung

TiÕt kiÖm

vi mô

Vi m«
Thị trường tài
chính vi mô

B¶o hiÓm
Vi m«

4.1.3 Chuyển từ hoạt động không chính thức sang hoạt động chính thức
Hiện nay đa số các TCTCVM vẫn còn hoạt động bán chính thức do đó các hoạt
động đều mang tính chất không chính thức vì không được chi phối bởi các qui định
hiệu lực của pháp luật. Để các TCTCVM hoạt động lành mạnh và phát triển bền
vững thì các TCTCVM phải chuyển thành các tổ chức chính thức, chịu sự kiểm soát
và chi phối bởi các qui định của pháp luật và sự giám sát của Ngân hàng nhà nước.
Một khi đã trở thành TCTCVM chính thức, bản thân các tổ chức sẽ dễ dàng mở
rộng các hoạt động huy động vốn, mở rộng các hình thức dịch vụ một cách chính
thức dưới sự điều chỉnh của luật các tổ chức tín dụng.

4.2Giải pháp phát triển TCVM ở Việt Nam
4.2.1 Có kế hoạch phát triển chiến lược quốc gia về TCVM
Để ngành TCVM phát triển bền vững và hiệu quả cần phải có một môi trường chính
sách phù hợp để điều chỉnh các hoạt động của nó. Hệ thống chính sách này giúp cân
bằng lợi ích giữa các bên; phát triển hoạt động trên nguyên tắc thị trường, đáp ứng
yêu cầu hội nhập và các điều kiện môi trường vĩ mô đồng bộ cũng sẽ tạo điều kiện,