Tải bản đầy đủ
4Tổng hợp kết quả hoạt động của một số tổ chức TCVM ở Việt Nam

4Tổng hợp kết quả hoạt động của một số tổ chức TCVM ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ

Trang 64

Hình 3.2: Đồ thị so sánh lượng vốn cho vay một số tổ chức TCVM tiêu biểu tại
Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010

Figure 2
16000000
14000000
12000000
Binhminh CDC

10000000

CEP

8000000

Nhóm M7
TCVM Thanh Hoa

6000000

TYM

4000000
2000000
0

2006

2007

2008

2009

2010

Nguồn: tổng hợp từ số liệu của Mix
Như vậy đối với các TCTCVM không được bao cấp thì tổng hoạt động cho vay trên
thị trường TCVM cũng chỉ tập trung vào hai tổ chức lớn nhất là CEP và TYM. Có
thể thấy hoạt động cho vay mới chỉ phát triển mạnh từ năm 2008, là thời điểm Ngân
hàng nhà nước ban hành Thông tư 02/2008/TT-NHNN mở ra cho các TCTCVM cơ
hội định hướng phát triển chuyên nghiệp.
Do hoạt động tín dụng vi mô của các tổ chức TCVM không được bao cấp mới chỉ
phát triển mạnh từ năm 2008 trở lại đây, do đó hoạt động này vẫn còn ở mức khởi
đầu với hình thức cho vay chưa đa dạng và số tiền cho vay rất khiêm tốn (Xem bảng
3.6)

Trang 65

Bảng 3.6 Số tiền cho vay trung bình mỗi khoản vay của các TCTCVM Việt
Nam trong giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính USD

Bang 6
Tổ chức
Binhminh CDC
CAFPE BR-VT
CEP
Nhóm M7
TCVM Thanh Hoa
TYM
WU Ha Tinh
Trung bình Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng (%)

2006
100
125
155
81
49
148
118
93

2007
119
135
175
91
90
172
99
92

-1%

2008
126
141
207
141
96
239
105
133

45%

2009
147
135
211
135
123
244
115
141

6%

2010
194
137
226
188
136
265
141
194

38%

Nguồn: tổng hợp từ số liệu của Mix

Như vậy, trong năm 2010, khoản vay trung bình của các hộ nghèo được hưởng là
194 USD, con số này thấp hơn so với trung bình trong năm 2010 khu vực Châu Á
Thái Bình Dương là 302USD, có thể thấy điều này phù hợp với điều kiện kinh tế
Việt Nam là nước nghèo trên thế giới.
Có thể thấy trong hoạt động tín dụng vi mô, các hình thức cho vay của các tổ chức
TCVM là chưa đa dạng, mức cho vay bình quân chưa cao. Và đặc biệt là sự lấn lướt
tuyệt đối của Ngân hàng chính sách xã hội đối với các tổ chức TCVM khác. Mà như
chúng ta đã đề cập ở chương 2, việc các tổ chức TCVM được nhà nước bao cấp,
cũng như chế độ bao cấp lãi suất làm cho thị trường TCVM phát sinh nhiều điểm
yếu, đặc biệt là việc mất khả năng cạnh tranh của các TCTCVM không được bao
cấp

3.4.2 Hoạt động tiết kiệm:
Hoạt động tiết kiệm của các tổ chức TCVM được thực hiện dưới hai hình thức, tiết
kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự nguyện

Trang 66

3.4.2.1

Huy động vốn dưới hình thức tiết kiệm bắt buộc:

Chỉ các TCTCVM bán chính thức mới áp dụng hình thức tiết kiệm bắt buộc, mỗi
khi vay một khoản tiền, các thành viên phải cam kết đóng một khoản tiềm tiết kiệm
bắt buộc, khoản tiền này được yêu cầu đóng định kỳ và được hưởng lãi suất. , đây là
một dạng bảo đảm nhằm tăng tính liên kết và trách nhiệm giữa các thành viên tham
gia. Mức tiết kiệm bắt buộc tùy thuộc cách tính của mỗi tổ chức, thông thường theo
giá trị khoản vay (từ 1-5%), hoặc theo giá trị tuyệt đối đóng góp hàng tháng (3-10
ngàn VND).
Bảng 3.7: Mức tiết kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự nguyện của một số TCTCVM
bán chính thức tính đến 2009

No

Tên tổ chức

Bang 7

SL KH
tham
gia TK
bắt
buộc

SL KH
tham
gia TK
tự
nguyện

TK bắt
buộc
(Triệu
VNĐ)

TK tự
nguyện
(Triệu
VNĐ)

34.464

1.516

32.483

1.446

18 176.526

19,22%

113.843

41.650

97.588

10.553

44 424.408

25,48%

Số
huyện
triển
khai

Tổng
nguồn
vốn
(Triệu
VNĐ)

Tỷ trọng
TK/Tổng
nguồn
vốn

1

TYM

2

CEP - HCM

3

FPW-Thanh Hoá

5.668

0

1.814

0

6

10.958

16,55%

4

Bình Minh-SEDA

4.644

327

2.212

135

3

11.298

20,77%

5

QũyHTPN PTKTHCM

7.524

7.524

3.207

24

35.632

9,00%

6

TCVM Tuyên
Quang

18.007

4.352

5

40.585

10,72%

7

Quỹ PT vì PN
nghèo Hà Tĩnh

30.162

8.606

8

55.672

15,46%

8

Dự án Việt - Bỉ

41.050

21.009

3

17

69.350

30,30%

9

Tổng các TCTVM
bán chính thức

352.437

76.835 207.830

23.949

211 970.885

23,87%

Nguồn: Nguyễn Kim Anh, 2010

Trang 67

Phần huy động tiết kiệm bắt buộc của các TCTVM bán chính thức lớn hơn nhiều so
với huy động tự nguyện. Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn huy động từ tiết kiệm bắt buộc
của các TCTCVM này cũng chỉ chiếm 21,4% trong tổng nguồn vốn. Phần tiền gửi
bắt buộc do các tổ chức TCVM Việt Nam quy định hầu như chỉ có ý nghĩa tượng
trưng. Về phần các quy định pháp lý và thông lệ thì ngay cả hệ thống ngân hàng
Việt Nam chưa có quy định hoặc thông lệ gửi tiền gửi/tiền tiết kiệm bắt buộc khi
vay vốn. Tuy nhiên hình thức này rất quan trọng trong TCVM vì đây còn là phương
pháp hỗ trợ việc hình thành các hành vi tiết kiệm và phòng ngừa rủi ro trong cộng
đồng người nghèo.

3.4.2.2 Huy động vốn dưới hình thức tiết kiệm tự nguyện
Đối với các TCTCVM bán chính thức, việc huy động vốn từ tiết kiệm tự nguyện là
rất ít ỏi. Trong số đó, hai tổ chức TYM và CEP có khả năng huy động tự nguyện
tương đối tốt nhưng tỷ trọng cũng chỉ trên 2% tổng nguồn vốn hoạt động. Tổng thể,
tỷ trọng tiết kiệm tự nguyện chỉ chiếm trung bình 2,47% trên tổng nguồn vốn của
các TCTCVM bán chính thức. (Nguyễn Kim Anh, 2010)
Nhìn chung, khả năng huy động tiết kiệm tự nguyện thấp của các TCTCVM bán
chính thức phụ thuộc vào hai vấn đề: (1) Chưa có quy định pháp lý về việc cho
phép các tổ chức TCVM bán chính thức huy động tiết kiệm; và (2) uy tín trong
cộng đồng của các tổ chức này chưa đủ lớn để huy động tiết kiệm từ các thành phần
kinh tế khác nhau.

3.4.3 Các hoạt động kinh doanh khác:
Ngoài hai hình thức dịch vụ chủ yếu là Tiết kiệm và Tín dụng, các tổ chức TCVM
còn triển khai nhiều hoạt động kinh doanh khác như Bảo hiểm vi mô, Chuyển tiền,
thanh toán… nhưng những hoạt động này đều nhỏ lẻ, mang tính thử nghiệm là
chính.

3.5Tổng kết lại những kết quả hoạt động của các tổ chức TCVM Việt nam

Trang 68

3.5.1 Những hoạt động đã đạt được:
3.5.1.1 Hoạt động TCVM ngày càng được mở rộng về quy mô:
Các tổ chức TCVM ở Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh trong thời gian vừa qua,
chúng ta có thể thấy sự phát triển về mặt nhân lực qua và nguồn vốn hoạt động tăng
trưởng qua từng năm:
Bảng 3.8: Sự phát triển về số nhân viên của một số tổ chức TCVM ở Việt Nam
trong giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: người
Tổ chức
Binhminh CDC
CAFPE BR-VT
CEP
Nhóm M7
TCVM Thanh
Hoa
TYM

2006
21
14
189
167

2007
19
14
226
169

61
145

32
157

Bang 8

2008
35
14
255
131

2009
25
14
300
173

2010
25
15
339
171

44
195

52
231

67
265

Nguồn Tổng hợp từ Mix

3.5.1.2 Số lượng khách hàng ngày càng tăng mạnh
Mức độ tiếp cận của các tổ chức TCVM ngày càng cao, xem xét tỷ lệ tăng trưởng
các khách hàng được hưởng dịch vụ tín dụng của các tổ chức TCVM tại Viêt Nam,
ta thấy mức tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 20% trong 3 năm gần đây
(xem bảng 3.9). Điều này cho thấy nỗ lực rất lớn của các tổ chức TCVM, đồng thời
cũng cho thấy tiềm năng phát triển của thị trường TCVM Việt Nam.
Tuy nhiên tỷ lệ phát triển thị trường quá lớn cũng tạo ra thách thức cho các
TCTCVM trong việc quản lý khách hàng và độ an toàn của các khoản cho vay.

Trang 69

Bảng 3.9: Số lượng khách hàng vay vốn theo từng năm
trong giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: người

Bang 9
Tổ chức
CAFPE BR-VT
CEP
Nhóm M7
TCVM Thanh Hoa
TYM
Tổng
Tăng trưởng

3.5.1.3

2006
6450
64233
30553
5572
22497
129305

2007
7283
74360
31488
4691
25482
143304
11%

2008
7284
107866
21520
5357
33935
175962
23%

2009
8000
134141
31161
6446
40282
220030
25%

2010
9777
164400
24788
9414
54903
263282
20%

Nguồn Tổng hợp từ Mix

Hoạt động của các tổ chức TCVM ngày càng có hiệu quả hơn:

Hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam ngày càng có hiệu quả hơn thông qua
việc nâng cao năng lực làm việc của nhân viên và chuyên môn hóa, tối ưu hóa hoạt
động của tổ chức để giảm chi phí hoạt động của tổ chức.
Năng lực của nhân viên được nâng cao thể hiện qua số lượng khách hàng mà mỗi
nhân viên trong tổ chức có thể phục vụ được, theo như thống kê trong bảng 3.10 thì
trong năm 2010, ngoài BinhMinhCDC và nhóm M7, có thể nhận thấy số lượng
khách hàng mà một nhân viên khai thác được nhìn chung là có tỷ lệ tăng trưởng
dương qua các năm, cho thấy hiệu quả hoạt động của nhân viên trong các tổ chức
TCVM ngày càng được cải thiện.Và con số này cao hơn tỷ lệ trung bình của khu
vực Châu Á Thái Bình Dương năm 2010 là 114 khách hàng / nhân viên (Theo thống
kê của Mix)