Tải bản đầy đủ
3Các tổ chức TCVM tiêu biểu tại Việt Nam hiện nay

3Các tổ chức TCVM tiêu biểu tại Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ

Trang 54

nhánh cấp tỉnh,thành phố và 608 Phòng giao dịch cấp huyện, hơn 10439 điểm giao
dịch tại xã, phường. Mục tiêu chủ yếu của NHCS là cung cấp tín dụng ưu đãi cho
các hộ nghèo và những đối tượng xã hội và chính sách theo quy định. Hiện nay,
NHCSXH đang thực hiện 2 phương thức cho vay:
(1) Phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội.
(2) Phương thức cho vay trực tiếp đến khách hàng.
Tính đến 31 tháng 12 năm 2009, tổng dư nợ các chương trình tín dụng đạt 72.660 tỷ
đồng, tăng 20.149 tỷ đồng (38,4%) so với năm 2008, với 7,5 triệu khách hàng đang
có dư nợ, trong đó dư nợ hộ nghèo cao nhất đạt 32.542 tỷ đồng với hơn 3,7 triệu hộ
khách hàng vay vốn. Cũng trong năm 2009 đã có hơn 1,5 triệu hộ gia đình vay vốn
cho con em học tập, nâng tổng dư nợ cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó
khăn lên 18.230 tỷ đồng. (NHCSXH, 2010)
Giá trị huy động tiết kiệm của NHCSXH rất thấp, chủ yếu xuất phát từ chính sách
sản phẩm và lãi suất kém đa dạng. Người dân chỉ biết đến NHCSXH như một tổ
chức tài chính đặc biệt thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao là cho vay các đối
tượng nghèo và chính sách xã hội, chứ không phải là ngân hàng với đầy đủ các hoạt
động cơ bản của một ngân hàng nói chung. Thêm vào đó, lãi suất huy động tiền gửi
chưa thực sự hấp dẫn so với các NHTM khác nên kết quả tất yếu là việc huy động
từ nguồn này còn yếu và thiếu. Nguồn huy động tiền gửi đã giảm mạnh: năm 2007
giảm 48,75%, năm 2008 giảm 62,83% và đặc biệt 2009 giảm 91,25% (Nguyễn Kim
Anh, 2010)
Tuy nhiên, do NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bản thân cán bộ
ngân hàng cũng không có động cơ phát triển hoạt động này, và các chính sách lãi
suất cũng như marketing của ngân hàng đối với các hoạt động này cũng không hấp
dẫn. Do đó, vẫn có rất nhiều hộ nghèo chưa tiếp cận được với NHCSXH. Điều này
được lý giải một phần do chi phí giao dịch cao đối với khách hàng, gây khó khăn
trong việc tiếp cận với đối tượng là khách hàng nằm dưới ngưỡng nghèo.

Trang 55

3.3.1.2 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
NHNo được thiết lập năm 1988. Trước đó ngân hàng này chỉ là một bộ phận của
Ngân hàng Nhà Nước. Từ năm 2003, ngân hàng đã chuyển giao việc cho vay hộ
nghèo cho NHCS, mặc dù họ vẫn đang thực hiện tín dụng do các tổ chức quốc tế tài
trợ thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cùng với các chương
trình tín dụng khác do chính phủ chỉ đạo. Vốn vay của NHNo chủ yếu cung cấp cho
những người nông dân ở khu vực nông thôn. Mức vốn cho vay dưới 10 triệu đồng
không đòi hỏi thế chấp nếu như được các đoàn thể như Hội Phụ nữ , Hội Nông
dân... bảo lãnh, mức vốn trên 10 triệu đồng cần phải có thế chấp. Ngân hàng ít có
đại diện xuống đến mức làng nhưng thường có văn phòng ở cấp quận. Đến cuối
năm 2010, Agribank có tổng tài sản trên 524.000 tỷ đồng; tổng nguồn vốn đạt
475.000 tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 414.952 tỷ đồng tăng trên
60.000 tỷ; có gần 40.000 cán bộ, viên chức tại hơn 2.300 chi nhánh và phòng giao
dịch trong toàn hệ thống. (http://www.agribank.com.vn/, 2011)
Trong số các TCTCVM, chỉ NHNo có hoạt động thanh toán nội địa phát triển nhất.
Hiện nay NHNo là TCTCVM lớn nhất liên kết với mạng chuyển tiền quốc tế
Western Union, thực hiện chuyển tiền trong nước, phát hành và quản lý thẻ ATM.
Tuy là ngân hàng lớn nhất cho nông dân vay tiền, số tín dụng vi mô do ngân hàng
này cung cấp tương đối giới hạn vì hai lý do: thứ nhất, ngân hàng này tuy do trung
ương kiểm soát nhưng không được ủy nhiệm phục vụ dân nghèo và thứ hai, chính
ngân hàng không khuyến khích phát triển tín dụng vi mô – vì hoạt động chính của
ngân hàng không phải là cung cấp tín dụng thương mại cho giới nghèo.

3.3.1.3

Các quỹ tín dụng Nhân dân

Thành lập năm 1993, thời kỳ thịnh hành nhất có tới hàng nghìn quỹ ở cấp cơ sở
nhưng đến năm 1998 do cuộc khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng đến toàn bộ hệ
thống tài chính nên năm 2000 đã được tổ chức lại theo 2 cấp là Trung ương và cơ
sở. Từ năm 2005 các Quỹ TDND trung ương và cơ sở được thống nhất quản lý bởi
Hiệp hội quỹ TDND. Đến nay trong hệ thống này, ngoài Quỹ TDND Trung ương

Trang 56

còn có 1046 Quỹ TDND cơ sở. Hơn 15 năm qua, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
đã phát triển nhanh chóng. Gần đây, nhờ sự hỗ trợ của Quỹ Bill and Melinda Gates,
hệ thống Quỹ đã được vi tính hóa và thử nghiệm dịch vụ thanh toán điện tử và
chuyển tiền cho các thành viên của mình. Quy mô khoản vay trung bình khoảng
hơn 8 triệu VND, cho thấy đối tượng vay không thuộc diện quá nghèo
QTDND được đánh giá cao về khả năng tiếp cận khách hàng và độ tiện ích của dịch
vụ, nhưng bị giới hạn ở phạm vi hoạt động trong cấp xã. Do đặc điểm là tổ chức tín
dụng phi ngân hàng, hoạt động của QTDND chỉ bó hẹp trong phạm vi cung cấp các
dịch vụ tài chính cho các thành viên của quỹ. Từ ngày 25/08/2010 QTDND đã
chính thức đưa vào hoạt động dịch vụ chuyển tiền FT, (FT là chương trình chuyển
tiền nhanh của QTDND Trung ương với mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch
rộng khắp đất nước đã mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng)
Để thành lập một Quỹ Tín dụng Nhân dân cần có sự tham gia của ít nhất 15 thành
viên sáng lập. Để đảm bảo cho sự hoạt động của Quỹ Tín dụng Nhân dân, các thành
viên sáng lập cần đóng góp một khoản vốn ban đầu ít nhất là 50 triệu đồng (khoảng
3,000 USD) bằng việc mua cổ phiếu trị giá ít nhất là 3,3 triệu đồng (tương đương
220 USD)/cổ phiếu. Sau khi đăng ký thành lập, Quỹ Tín dụng Nhân dân sẽ kêu gọi
thêm các thành viên mới tham gia mua cổ phiếu với giá 50,000 đồng (4 USD)/cổ
phiếu. Những thành viên này sau đó sẽ có quyền huy động và cho vay. Khoảng 84%
tài sản của các Quỹ Tín dụng Nhân dân được huy động từ các thành viên của Quỹ
(từ vốn góp và các khoản tiếtkiệm) (BWTP, 2008)

3.3.1.4

Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện Việt Nam

Công ty dịch vụ TKBĐ (VPSC) được thành lập vào năm 1999 và hoạt động dưới
quyền của Tổng cục Bưu chính viễn thông Việt Nam. Là một mạng những hợp tác
xã tài chính hoạt động độc lập vừa nhận tiền tiết kiệm của dân vừa phát hành tín
dụng vi mô cho bộ phận dân cư Việt Nam chưa được phục vụ đầy đủ. Theo Quyết
định 215/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, VPSC được phép huy động tiền
nhàn rỗi trong dân cư thông qua các dịch vụ tiết kiệm bưu điện (TKBĐ) để chuyển

Trang 57

giao cho Quỹ Hỗ trợ phát triển – đây là Quỹ huy động vốn trung và dài hạn, tiếp
nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước dành cho tín dụng đầu tư phát triển,
hiện nay đã được chuyển đổi thành ngân hàng Phát triển Viển Nam (VDC); ngoài ra
VPSC không được phép cung cấp dịch vụ gì khác ngoài dịch vụ tiết kiệm.
Ngày 29/07/2011, VPSC đã sáp nhập với ngân hàng Liên Việt để hình thành ngân
hàng Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, việc sáp nhập này mở ra cơ hội cho VPSC
thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, mở rộng thêm mảng tín dụng, bảo
hiểm… Ngân hàng Bưu điện Liên Việt được kỳ vọng sẽ trở thành một thế lực
mạnh mẽ trong thị trường tài chính Việt Nam nói chung và trong hệ thống TCVM
nói riêng với hệ thống chi nhánh lớn nhất lên tới hơn 13000 chi nhánh và phòng
giao dịch trên cả nước. (www.lienvietpostbank.com.vn, 2011)

3.3.2 Khu vực bán chính thức
Các tổ chức bán chính thức không hoạt động theo các qui định về tài chính giống
như các chương trình của chính phủ, bao gồm các chương trình do các tổ chức phi
chính phủ (quốc tế và trong nước) tài trợ và các quỹ hoạt động chuyên lãnh vực tài
chính vi mô liên quan đến các tổ chức đoàn thể (như Hội liên hiệp Phụ Nữ Việt
Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam…). Những tổ chức
tài chính vi mô này được coi là khuyến khích người nghèo hơn và hướng tới việc
cung cấp dịch vụ tài chính sâu rộng hơn và thích hợp hơn so với khu vực tài chính
chính thức. Theo thống kê của MFWG, hiện nay, tai Việt Nam có 53 TCTCVM
không được chính phủ bao cấp đang hoạt động (MFWG, 2011). Hiện nay TYM là tổ
chức duy nhất được cấp giấy phép kinh doanh để trở thành tổ chức TCVM chuyên
nghiệp dưới tên gọi là “Tổ chức tài chính quy mô nhỏ TNHH MTV Tình Thương
(TYM)” . Ngoài ra quỹ Trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) và
Mạng lưới tài chính vi mô M7 cũng đang tiến hành thủ tục xin đăng ký kinh doanh.

3.3.2.1

Tổ chức tài chính quy mô nhỏ TNHH MTV Tình Thương (TYM)

Từ năm 1992 đến năm 1997, TYM là một dự án trực thuộc Ban Gia đình đời sống
(nay là Ban Gia đình xã hội). Năm 1992, với khoản tài trợ ban đầu của Quỹ ủy thác

Trang 58

Châu Á (ACT) giúp TYM tiếp cận với phương pháp tín dụng theo kiểu ngân hàng
Grameen. Hoạt động chính của TYM là hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo tăng thu nhập,
phát triển sản xuất và dịch vụ đồng thời tuyên truyền nâng cao kiến thức về khuyến
nông, về giới, sức khỏe sinh sản, phòng chống tệ nạn xã hội.v...v.
Các thành viên đến với TYM được tập trung nhau lại thành những nhóm 5 người.
Từ 5-6 nhóm hình thành nên một cụm. Hàng tuần, cụm tổ chức họp để trao đổi
thông tin cũng như hoàn trả gốc, lãi vốn vay và đóng tiết kiệm.
Năm 1998, dự án Quỹ Tình Thương được tách ra khỏi Ban Gia Đình - Đời sống
thành một đơn vị độc lập trực thuộc Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội theo Quyết
định số 14/QĐ -ĐCT ngày 12/01/1998.
Sự chuyển đổi này đã minh chứng cho tính bền vững của chương trình và sự vượt
khó vươn lên không ngừng của những người nghèo không đầu hàng với số phận.
Từ đây, Quỹ Tình Thương đã hoạt động với bộ máy tổ chức riêng, con dấu, tài
khoản riêng và có các cán bộ chuyên trách trên Văn phòng trung ương. Với cơ cấu
độc lập, tự chủ, đã giúp cho hoạt động tài chính vi mô của TYM chuyên môn và
chặt chẽ hơn. (http://tymfund.org.vn, 2011)
Đến năm 2010 thì TYM chính thức trở thành Tổ chức Tài chính Quy mô nhỏ đầu
tiên tại Việt Nam được cấp phép của Ngân hàng Nhà nước. Đây là cơ hội nhưng
cũng có nhiều thách thức đối với TYM, cũng trong năm này TYM đã phát triển số
lượng thành viên mới nhiều nhất trong 18 năm hoạt động với 14.715 thành viên,
đưa tổng số thành viên TYM đạt trên 55.000 thành viên; tỷ lệ hoàn trả luôn được
duy trì ở mức 99.9%, dư nợ vốn đạt trên 281 tỷ đồng, tỷ lệ tự vững vận hành đạt
161%. Trong năm TYM đã hoàn thành việc chuyển đổi 100% các chi nhánh theo
mô hình cho vay cá nhân. (TYM, 2011)

3.3.2.2

Quỹ Trợ Vốn cho Người lao động nghèo Tự tạo việc làm (CEP)

Liên đoàn Lao động Tp. HCM thành lập CEP là một tổ chức tài chính vi mô phi lợi
nhuận vào tháng 11/1991 theo mô hình Ngân hàng Grameen nhằm giảm tình trạng

Trang 59

nghèo của công nhân lao động Thành phố và giúp họ tự tạo việc làm thông qua việc
cung cấp các dịch vụ tài chính. Năm 2010, CEP tiếp tục hoạt động trên địa bàn Tp.
HCM, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang.
Trong suốt 19 năm qua kể từ khi được thành lập, CEP không ngừng phát triển mạnh
mẽ nhờ vào tinh thần làm việc nỗ lực của đội ngũ cán bộ nhân viên, sự hỗ trợ tích
cực của hệ thống công đoàn và rất nhiều đối tác. Đến tháng 12/2010, với trên
164.400 thành viên đang vay vốn, CEP đạt vị trí là tổ chức tài chính vi mô lớn nhất
ở Việt Nam. CEP cung cấp các sản phẩm tài chính và một số dịch vụ phát triển
cộng đồng cho các hộ nghèo, chủ yếu là tín dụng tạo thu nhập và việc làm, nhằm
trực tiếp tạo ra những cải thiện an sinh của các hộ nghèo. CEP tập trung phục vụ
nhóm thành viên nghèo và nghèo nhất với nỗ lực tham gia đóng góp vào công cuộc
giảm nghèo trong cả nước
Đến cuối năm 2010, CEP có mạng lưới gồm 25 chi nhánh, 339 nhân viên, nguồn
vốn đầu tư cho vay 723 tỷ đồng và tiếp tục tự cung về hoạt động.
Sản phẩm tín dụng vi mô của CEP bao gồm hai sản phẩm vay được phân loại theo
chu kỳ hoàn trả nợ vay: hoàn trả vốn vay theo hàng tuần và hàng tháng. Thời hạn
vay từ 20 đến 60 tuần đối với góp tuần, và 10 đến 15 tháng đối với vay góp tháng.
Mỗi khách hàng chỉ có thể được sử dụng một trong 2 loại sản phẩm vay chính, tuy
nhiên mục đích sử dụng vốn vay có thể thay đổi tùy theo tính chất của hoạt động tạo
thu nhập. Sản phẩm vay góp tháng phục vụ cho đối tượng công nhân viên và công
nhân làm việc ở nhà máy, khu công nghiệp, vay góp tuần dành cho đồi tượng lao
động nghèo, đặc biệt là phụ nữ, những người cần vốn để tự tạo việc làm. Năm 2010,
CEP đã cấp 208.000 khoản vay cho khách hàng. (http://www.cep.org.vn, 2011)
Về dịch vụ tiết kiệm, CEP cũng có 2 hình thức: tiết kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự
nguyện. Khách hàng sẽ thực hiện tiết kiệm bắt buộc trích từ một phần của vốn vay
trong suốt chu kỳ hoàn trả, và được khuyến khích thực hiện tiết kiệm tự nguyện.
CEP sẽ hoàn trả lãi suất hàng tháng là 0,25% dựa trên dư nợ tiết kiệm. Khách hàng
vay góp tháng được yêu cầu thực hiện tiết kiệm 1%/tháng trên vốn vay, đối với

Trang 60

khách hàng vay góp tuần cũng được yêu cầu thực hiện 1%/ tháng trên vốn vay. Hơn
nữa, thành viên có thể gởi tiết kiệm định hướng tùy theo khả năng của mình..
Kết quả hoạt động của CEP qua các năm được thể hiện trong bảng 3.3
Bảng 3.3: Một vài chỉ tiêu hoạt động của CEP từ năm 2006-2010Bang 3

Nguồn : báo cáo hoạt động 2010 của CEP

3.3.2.3 Mạng lưới tài chính vi mô M7
Mạng lưới Tài chính vi mô có tên là nhóm M7 được thành lập ngày 5 tháng 7 năm
2006 với sự tài trợ của quỹ MckNight thông qua dự án:"Hỗ trợ chuyển đổi chương
trình tiết kiệm tín dụng theo nghị định 28 CP của chính phủ"
Thành viên của mạng lưới bao gồm 7 tổ chức đang cung cung cấp dịch vụ tiết kiệm
tín dụng theo mô hình do ActionAid hỗ trợ thành lập và họat động từ những năm
1993 tới 2003. Đó là các Tổ chức thuộc huyện Mai Sơn, Sơn La; Thành phố Điện
Biên; Huyện Điện Biên; Đông Triều và Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh; Can Lộc, Tỉnh
Hà Tĩnh; Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận.
Mục đích hoạt động của các thành viên nhóm M7 là cung cấp các dịch vụ Tài chính
vi mô cho người nghèo, cộng đồng nghèo, chủ yếu là phụ nữ và gia đình của họ có
cơ hội phát triển kinh tế, cải thiện đời sống và vị thế.
Kể từ khi mạng lưới M7 được thành lập, nhóm M7 đã có những bước phát triển ấn
tượng: tài sản của các thành viên – từ 49,657 tỉ VND năm 2007 lên 105,364 tỉ năm

Trang 61

2011- (tăng hơn 112%); số lượng thành viên, từ 31,496 thành viên năm 2007 lên
7,051 thành viên năm 2011 (tương ứng với xấp xỉ 17,6%).
Một số chỉ tiêu hoạt động của nhóm M7 được thể hiện trong bảng 3.4

Trang 62

Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu hoạt động của nhóm M7 năm 2011

Bang 4

Nguồn: Bản tin M7, tháng 9/2011

Trang 63

3.4Tổng hợp kết quả hoạt động của một số tổ chức TCVM ở Việt Nam
3.4.1 Hoạt động tín dụng:
Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ đạo của TCVM để hỗ trợ người nghèo có vốn
khởi nghiệp, vì vậy các tổ chức TCVM Việt Nam cũng rất chú trọng phát triển các
loại hình tín dụng. Các loại hình tín dụng đều được thiết kế trên nguyên tắc cho vay
không yêu cầu thế chấp, không tạo ra gánh nặng về hoàn trả, bảo đảm cho người
nghèo tập dượt kỹ năng quản lý, sử dụng vốn vào các hoạt động tăng thu nhập và
bảo đảm bù đắp các chi phí hợp lý cho hoạt động của tổ chức TCVM
Hiện nay phổ biến các loại hình tín dụng như sau: vay trả góp ngày, vay trả góp
tuần, vay trả góp tháng, vay sửa chữa nhà ở, vay cải thiện môi trường…
Bảng 3.5 Thống kê lượng vốn cho vay một số tổ chức TCVM tiêu biểu tại Việt
Nam trong giai đoạn 2006 - 2010
Đơn vị tính: USD
Tổ chức
Binhminh CDC
CEP
Nhóm M7

2006

Bang 5

2007

2008

2009

2010

0
0
133.162
190.899
332.747
1.694.722
1.869.864
9.476.784
8.954.703
14.126.042
202.732
2.185
4.5049
279.592
511.105
TCVM Thanh Hoa
0
0
60.345
309.775
563.359
TYM
0
343.361
4.410.605
4.305.187
6.412.722
Tổng TCTCVM
1.899.460
2.217.417
14.127.953
14.042.165
21.947.985
VBSP
707.098.042 1.359.213.238 2.155.536.609 2.698.587.977 1.788.181.273

Nguồn: tổng hợp từ số liệu của Mix

Có thể thấy hiện nay trong hoạt động cho vay TCVM tại Việt Nam thì Ngân hàng
chính sách xã hội (VBSP) chiếm tỷ lệ tuyệt đối so với cáo tổ chức khác. Điều này
có thể lý giải bởi chủ trương xóa đói giảm nghèo của chính phủ, và chính sách bao
cấp lãi suất đối với NHCSXH.
Để xem xét hoạt động cho vay của các tổ chức TCVM khác, tôi sẽ không tính hoạt
động của NHCSXH vào thì có thể thấy bức tranh rõ ràng hơn trong hình 3.2.

Trang 64

Hình 3.2: Đồ thị so sánh lượng vốn cho vay một số tổ chức TCVM tiêu biểu tại
Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010

Figure 2
16000000
14000000
12000000
Binhminh CDC

10000000

CEP

8000000

Nhóm M7
TCVM Thanh Hoa

6000000

TYM

4000000
2000000
0

2006

2007

2008

2009

2010

Nguồn: tổng hợp từ số liệu của Mix
Như vậy đối với các TCTCVM không được bao cấp thì tổng hoạt động cho vay trên
thị trường TCVM cũng chỉ tập trung vào hai tổ chức lớn nhất là CEP và TYM. Có
thể thấy hoạt động cho vay mới chỉ phát triển mạnh từ năm 2008, là thời điểm Ngân
hàng nhà nước ban hành Thông tư 02/2008/TT-NHNN mở ra cho các TCTCVM cơ
hội định hướng phát triển chuyên nghiệp.
Do hoạt động tín dụng vi mô của các tổ chức TCVM không được bao cấp mới chỉ
phát triển mạnh từ năm 2008 trở lại đây, do đó hoạt động này vẫn còn ở mức khởi
đầu với hình thức cho vay chưa đa dạng và số tiền cho vay rất khiêm tốn (Xem bảng
3.6)