Tải bản đầy đủ
2Môi trường hoạt động của TCVM ở Việt Nam

2Môi trường hoạt động của TCVM ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ

Trang 50

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2006-2010

Bang 1

Năm

Tốc độ
tăng
trưởng
GDP (%)

Tỷ lệ lạm
phát (%)

Thu nhập
bình quân
đầu người
(USD)

2006
2007
2008
2009
2010

8,23
8,46
6,31
5,32
6,78

6.6
12.6
19.9
6.5
11.8

730
843
1052
1064
1169

Nguồn Tổng cục thống kê
Nền tảng kinh tế ổn định, đã tạo những điều kiện thuận lợi cho các tổ chức TCVM
phát triển, đồng thời quá trình mở cửa, tự do nền kinh tế cũng giúp cho việc tiếp thu
các kinh nghiệm phát triển TCVM trong việc xóa đói giảm nghèo trên thế giới
thuận lợi hơn.

3.2.2 Môi trường xã hội – chính trị:
Việt Nam là quốc gia có chế độ chính trị thuộc loại ổn định nhất trên thế giới, đồng
thời chính phủ luôn quan tâm đến việc xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao đời sống
nhân dân. Đây là một mặt thuận lợi cho việc phát triển các TCTCVM.
Bảng 3.2: Tỷ lệ hộ nghèo tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010

Bang 2
Tỷ lệ hộ nghèo
Cả nước
Thành Thị
Nông thôn

2006
15.5
7.7
18

2008
13.4
6.7
16.1

Đơn vị tính: %
2010
10.7
5.1
13.2

2010*
14.2
6.9
17.4

*: tính theo chuẩn nghèo mới ban hành năm 2011
Nguồn:Tổng cục thống kê

Có thể thấy tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm là kết quả tích cực của công cuộc
xóa đói giảm nghèo, trong đó có phần đóng góp của các tổ chức TCVM, tuy nhiên
vẫn có nhiều ý kiến cho rằng ở Việt Nam vẫn còn các nguy cơ tái nghèo cao. Nhận
thức được điều này, chính phủ quan tâm nhiều hơn đến phát triển nông thôn và coi

Trang 51

đó là công cụ hiệu quả để tấn công đói nghèo và cải thiện điều kiện sống. Nhu cầu
về vốn và các dịch vụ tài chính cho phát triển nông nghiệp và nông thôn nói chung
và kinh tế hộ gia đình nói riêng là rất lớn. Việt Nam là một quốc gia đông dân, với
tỷ lệ người nghèo cao, là một thị trường tiềm năng cho ngành TCVM phát triển.
Tập quán tiết kiệm cũng là một thói quen tốt của người Việt nam tạo điều kiện cho
việc phát triển sản phẩm của TCVM là tiết kiệm bắt buộc.

3.2.3 Môi trường pháp lý
Hoạt động TCVM, cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội khác, chịu ảnh hưởng và
sự chi phối của các quy định pháp luật. Môi trường pháp lý phù hợp sẽ tạo động lực
cho các TCTCVM phát triển rộng hơn, sâu hơn và phục vụ người nghèo tốt hơn.
Khi đề cập đến môi trường pháp lý cho hoạt động TCVM, chúng tôi đề cập đến hai
vấn đề: khung pháp luật điều chỉnh đối với vấn đề tổ chức và hoạt động TCVM
khung pháp luật cho mức lãi suất của các tổ chức TCVM

3.2.3.1 Khung pháp luật điều chỉnh đối với vấn đề tổ chức và hoạt động
TCVM:
Trước đây, khung pháp lý đối với hoạt động TCVM nói chung và các tổ chức
TCVM nói riêng đều chưa hoàn chỉnh. Vì từ trước đến nay việc xóa đói giảm
nghèo thường được nhà nước trực tiếp thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước
như: Ngân hàng NN&PTNT, Ngân hàng chính sách xã hội, hay các quỹ tín dụng
nhân dân...
Đến năm 2005, mới chính thức có những quy định pháp lý cơ bản quy định về tổ
chức và hoạt động của các tổ chức TCVM dưới tên gọi là các “tổ chức tài chính quy
mô nhỏ”. Văn bản quy định về vấn đề này là: Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày
09/03/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức TCQMN tại Việt Nam. Sự ra đời
nghị định này đánh dấu bước tiến quan trọng cho ngành TCVM Việt Nam, khẳng
định sự thừa nhận của nhà nước về vai trò cũng như vị trí của hoạt động TCVM
trong hệ thống tài chính quốc gia

Trang 52

Tiếp đó Nghị định số 28/2005/NĐ-CP được bổ sung năm 2007 bằng nghị định số
165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007.
Tiếp sau các Nghị định nêu trên, ngày 2/4/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành
Thông tư số 02/2008/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị
định, tập trung chủ yếu vào các quy định về điều kiện, quy trình, thủ tục cấp giấy
phép và cơ cấu sở hữu, quản trị, kiểm soát, điều hành tổ chức tài chính quy mô nhỏ.
Sự ra đời của thông tư 02/2008/TT-NHNN đã mở ra hướng phát triển cho TCVM
Việt Nam, hướng đến một cơ cấu tổ chức vững chắc cho các tổ chức TCVM. Từ
đây, các tổ chức TCVM sẽ tiến lên hoạt động một cách chính thức và có sự điều
chỉnh của pháp luật.
Có thể nói khung pháp lý để quản lý hoạt động của các TCTCVM ra đời khá muộn
màng so với sự hình thành và phát triển của TCVM tại Việt Nam, tuy nhiên, điều
này cũng đã thể hiện định hướng cho các TCTCVM phát triển theo hướng tự chủ,
độc lập.
Hình 3.1: Tiến trình của Nghị định 28&165 và thông tư số 02/2008/TT-NHNN

Figure 1

Nguồn: BWTP, 2008
3.2.3.2 Khung pháp luật cho mức lãi suất của các tổ chức TCVM
Vấn đề lãi suất tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của các tổ chức
TCVM. Theo quy định tại Luật Dân sự, trần lãi suất cho vay áp dụng chung cho các
đối tượng và giao dịch là 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho

Trang 53

vay tương ứng. Hiện tại, lãi suất cho vay cơ bản của NHNN là 9%/năm, do vậy lãi
suất cho vay tối đa hiện là 13.5%/năm. Trong khi đó, với đặc thù ngành TCVM, các
khoản vay nhỏ, lẻ do đó chi phí giao dịch sẽ rất lớn, nên hiện nay thông thường để
hoạt động có hiệu quả kinh tế, lãi suất thực các TCTCVM cho vay thường là 17%/
năm. Đây là một vấn đề hóc búa đối với các tổ chức TCVM
Mặt khác chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ trong chương trình xoá đói,
giảm nghèo với mức lãi suất cho vay bằng khoảng một nửa lãi suất thị trường làm
ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường TCVM nói chung bởi các lý do:
(i) Ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và giảm thiểu khả năng tăng trưởng của
các tổ chức TCVM khác;
(ii) Không khuyến khích các ngân hàng khác và tổ chức cung cấp dịch vụ
TCVM mới tham gia thị trường; và
(iii) Tạo tâm lý phụ thuộc vào trợ cấp của các hộ gia đình nghèo
Chính sách bao cấp lãi suất là rào cản cho sự phát triển của các tổ chức TCVM, mặt
khác nó cũng là nguyên nhân gây làm cho hiệu quả của TCVM giảm xuống. Nhiều
hộ không có nhu cầu vay vốn cũng cố gắng vay vốn vì được vay giá rẻ, làm mất đi
cơ hội vay vốn của những hộ thật sự có nhu cầu sử dụng vốn, bên cạnh đó nó cũng
là nguyên nhân gây ra hiện tượng tiêu cực, cho vay không đúng đối tượng.

3.3Các tổ chức TCVM tiêu biểu tại Việt Nam hiện nay:
3.3.1 Các tổ chức chính thức:
3.3.1.1 Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam:
NHCSXH được thành lập năm 2003, tiếp nhận chương trình cho vay món nhỏ cho
đối tượng chính sách và các chương trình cho vay trực tiếp của giai đoạn trước được
quản lý bởi các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước (NHTMNN) và các
tổ chức khác, trong đó có Ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây. Chiến lược
phát triển tổ chức của NHCSXH lấy mô hình phát triển của Ngân hàng Rakyat
Indonessia làm bài học kinh nghiệm. Tính đến nay, Ngân hàng đã thiết lập 64 chi

Trang 54

nhánh cấp tỉnh,thành phố và 608 Phòng giao dịch cấp huyện, hơn 10439 điểm giao
dịch tại xã, phường. Mục tiêu chủ yếu của NHCS là cung cấp tín dụng ưu đãi cho
các hộ nghèo và những đối tượng xã hội và chính sách theo quy định. Hiện nay,
NHCSXH đang thực hiện 2 phương thức cho vay:
(1) Phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội.
(2) Phương thức cho vay trực tiếp đến khách hàng.
Tính đến 31 tháng 12 năm 2009, tổng dư nợ các chương trình tín dụng đạt 72.660 tỷ
đồng, tăng 20.149 tỷ đồng (38,4%) so với năm 2008, với 7,5 triệu khách hàng đang
có dư nợ, trong đó dư nợ hộ nghèo cao nhất đạt 32.542 tỷ đồng với hơn 3,7 triệu hộ
khách hàng vay vốn. Cũng trong năm 2009 đã có hơn 1,5 triệu hộ gia đình vay vốn
cho con em học tập, nâng tổng dư nợ cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó
khăn lên 18.230 tỷ đồng. (NHCSXH, 2010)
Giá trị huy động tiết kiệm của NHCSXH rất thấp, chủ yếu xuất phát từ chính sách
sản phẩm và lãi suất kém đa dạng. Người dân chỉ biết đến NHCSXH như một tổ
chức tài chính đặc biệt thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao là cho vay các đối
tượng nghèo và chính sách xã hội, chứ không phải là ngân hàng với đầy đủ các hoạt
động cơ bản của một ngân hàng nói chung. Thêm vào đó, lãi suất huy động tiền gửi
chưa thực sự hấp dẫn so với các NHTM khác nên kết quả tất yếu là việc huy động
từ nguồn này còn yếu và thiếu. Nguồn huy động tiền gửi đã giảm mạnh: năm 2007
giảm 48,75%, năm 2008 giảm 62,83% và đặc biệt 2009 giảm 91,25% (Nguyễn Kim
Anh, 2010)
Tuy nhiên, do NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bản thân cán bộ
ngân hàng cũng không có động cơ phát triển hoạt động này, và các chính sách lãi
suất cũng như marketing của ngân hàng đối với các hoạt động này cũng không hấp
dẫn. Do đó, vẫn có rất nhiều hộ nghèo chưa tiếp cận được với NHCSXH. Điều này
được lý giải một phần do chi phí giao dịch cao đối với khách hàng, gây khó khăn
trong việc tiếp cận với đối tượng là khách hàng nằm dưới ngưỡng nghèo.