Tải bản đầy đủ
2Hoạt động TCVM ở một số quốc gia

2Hoạt động TCVM ở một số quốc gia

Tải bản đầy đủ

Trang 29

Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tiêu biểu:
* Ngân hàng Grameen
Khi nghiên cứu về các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tại
Bangladesh, chúng ta không thể không đề cập tới ngân hàng Grameen – đơn vị tiên
phong trong việc thành lập và đưa nền công nghiệp hiện đại này vào hoạt động với
mục tiêu giúp người dân dần thoát nghèo. Ngân hàng này được Giáo sư Mohammad
Yunus thành lập vào năm 1976 khi ông tiến hành dự án với nội dung nghiên cứu
khả năng thiết kế hệ thống tín dụng nhằm cung cấp dịch vụ ngân hàng tại những
khu vực nông thôn khó khăn. Ban đầu, mô hình tài chính vi mô chỉ được Yunus
triển khai tại thị trấn Jobra, sau này, ông đã mở rộng quy mô hoạt động của chương
trình ra một số tỉnh khác trên đất nước Bangladesh. Vào tháng 10 năm 1983, dự án
ngân hàng Grameen được chuyển thể thành ngân hàng trực thuộc Chính phủ
Bangladesh. Và cho đến ngày nay, ngân hàng này chính thức hoạt động dưới sự
điều hành của những người dân nghèo vùng nông thôn – những “vị khách” mà ngân
hàng phục vụ. Cụ thể, 94% số cổ phiếu do người đi vay nắm giữ, phần còn lại 6%
được quản lý bởi Chính phủ nước này.
* Ngân hàng PKSF
PKSF là một Ngân hàng tài chính vi mô bán buôn được Chính phủ
Bangladesh thành lập vào tháng 5 năm 1990. PKSF hoạt động vì mục tiêu phi lợi
nhuận thông qua việc cho vay bán buôn cho các TCTCVM ở cộng đồng. Hiện nay
PKSF cho vay 233 TCTCVM ở cộng đồng, qua các tổ chức này PKSF đã gián tiếp
hỗ trợ 5,74 triệu hộ gia đình với dư nợ hơn 2 tỷ USD.
Các dịch vụ tài chính vi mô
a. Tín dụng vi mô
Với vị trí là quốc gia đầu tiên áp dụng dịch vụ tài chính vi mô, hiển nhiên
những thành quả mà Bangladesh gặt hái được qua chương trình này hoàn toàn được
quốc tế ghi nhận. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu gần đây, ngành tín dụng vi mô

Trang 30

tại Bangladesh đang dần rơi vào khủng hoảng do việc biến tài chính vi mô trở thành
công cụ kiếm lời của những kẻ cho vay nặng lãi. Cụ thể, dưới lớp vỏ “tài chính vi
mô”, hiện tượng cho vay với lãi suất cao nhằm kiếm lời từ những người dân nghèo
vô tội đang len lỏi ngày một dữ dội vào những khu “ổ chuột” của Bangladesh, khiến
những người nghèo – đối tượng được chương trình quan tâm nhất đang trở thành
con nợ ‘dài hạn”.
b. Bảo hiểm vi mô
Bangladesh đang thí điểm một sản phẩm BHVM được thiết kế đặc biệt đáp ứng nhu
cầu cho dân số có thu nhập thấp, dưới 2 đôla/ngày, sống ở khu vực nông thôn. Với
đặc điểm khách hàng là người nghèo, chưa bao giờ được tiếp cận với bất cứ hình
thức bảo trợ xã hội hay bảo hiểm thương mại nào, BHVM - sản phẩm mang đặc
tính chia sẻ rủi ro với mức phí thấp và giới hạn phí tổn - thường bảo hiểm cho rất
nhiều lĩnh vực, từ nhân thọ và chăm sóc sức khoẻ tới thời tiết, tài sản, mùa màng,
gia súc và thiên tai.
BHVM phát triển khá chậm dù dân số nơi đây đang phát triển với tốc độ chóng mặt
và tổng số người nghèo hiện đã lên tới 160 triệu người. Tại Bangladesh hiện có 11
công ty bảo hiểm nhân thọ chính thức đang cung cấp sản phẩm BHVM, so với số
lượng hàng nghìn tổ chức TCVM được cấp phép đang cho người nghèo vay vốn
Hoạt động TCVM ở Bangladesh phát triển rất mạnh kể từ được khi ngân hàng
Grameen khởi xướng. Sự phát triển của ngân hàng Grameen dựa trên sự hỗ trợ về
vốn ban đầu và sự điều hành của chính phủ và sau đó chuyển giao dần cho những
người nghèo nắm giữ. Nghĩa là chính phủ đứng ra điều hành và hỗ trợ vốn cho hoạt
động ban đầu của ngân hàng Grameen, sau khi đã có hoạt động hiệu quả thì chính
phủ sẽ chuyển giao dần quyền điều hành cho những khách hàng của ngân hàng, để
những người nghèo tự chủ trong việc quản lý ngân hàng phục vụ cho chính quền lợi
của họ. Việc để cho các khách hàng trở thành chủ của ngân hàng Grameen đã tạo
cho các khách hàng động lực để cố gắng đóng góp cho ngân hàng, đảm bảo sự
phát triển của ngân hàng.

Trang 31

Tuy nhiên sự bùng nổ quá nhanh các TCTCVM, kết hợp với sự quản lý lỏng lẻo của
chính phủ đã khiến cho một số tổ chức TCVM tại Bangladesh đang bị biến tướng
thành các dịch vụ cho vay lãi suất cắt cổ, đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên mục tiêu
xã hội, khiến những người nghèo ngày càng nghèo hơn.

2.2.2 Hoạt động TCVM ở Trung Quốc:
Ở Trung Quốc, sự phát triển của hoạt động tín dụng vi mô có mối quan hệ chặt chẽ
với chính sách giảm nghèo của chính phủ Trung Quốc. Nếu lấy mốc đến năm 2000,
chúng ta có thể chia tiến trình giảm nghèo của Trung Quốc làm ba giai đoạn theo
thứ tự thời gian:
-

Giai đoạn thứ nhất (trước năm 1985):
+ Mô hình: Viện trợ
+ Phương pháp: Hỗ trợ tạo nguồn thu nhập và cấp bù tài chính cho tín
dụng vi mô.

-

Giai đoạn thứ hai (từ 1986 đến 1993):
+ Mô hình: Phát triển khu vực
+ Phương pháp: Tập trung giải quết đói nghèo theo khu vực, tăng
cường các điều kiện phát triển và tăng năng suất sản xuất nông nghiệp

-

Giai đoạn thứ ba (từ 1994 đến 2000):
+ Mô hình: Trọng tâm làng xã và các hộ gia đình
+ Phương pháp: Tập trung phát triển các tổ nhóm của người nghèo và
tăng cường nguồn lực con người

Lượng tín dụng chống đói nghèo chiếm tỷ trọng lớn trong quỹ xoá đói giảm nghèo
của Trung Quốc. Tuy nhiên, tín dụng vi mô còn hai tồn tại là: tỷ lệ hộ nghèo được
hưởng tín dụng vi mô còn thấp và tỷ lệ trả nợ thấp.
Tại Hội thảo về chống đói nghèo năm 1996, Trung Quốc xác định Quỹ xoá đói
giảm nghèo không chỉ dành cho các quận/huyện nghèo mà còn phải đến được cả

Trang 32

các làng xã và hộ gia đình nghèo. Vì vậy, cần phát triển phương thức tiếp cận và hệ
thống tín dụng vi mô. Với phương thức cho vay qua tổ nhóm, tín dụng vi mô cho
người nghèo đã trở thành công cụ thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo của
Chính phủ Trung Quốc.
Bước ngoặt đối với Trung Quốc là các chương trình tín dụng vi mô thí điểm không
chỉ còn do các tổ chức phi chính phủ tài trợ mà đã được chính phủ thực hiện trên
diện rộng và có thể thông qua các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, có
sự không thống nhất giữa các quy chế tài chính và chính sách cho vay ưu đãi xoá
đói giảm nghèo của Chính phủ Trung Quốc. Giải pháp cho vướng mắc này là Ngân
hàng Nông nghiệp Trung Quốc sẽ thực hiện việc cho vay tới người nghèo và Chính
phủ Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm phân loại các nhóm đối tượng chính sách.
Chương trình này của Chính phủ Trung Quốc đã có đóng góp lớn vào việc tạm thời
hỗ trợ vốn cho người nghèo ở phạm vi rộng, đạt được mục tiêu của Chương trình là
góp phần thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo của Chính phủ và giải quyết hai tồn tại
chính của tín dụng vi mô là xác định đối tượng và tỷ lệ trả nợ thấp.
Tại Trung Quốc, dịch vụ tiết kiệm hoạt động tốt hơn hoạt động tín dụng và ba nhà
cung cấp dịch vụ chính là Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, Hợp tác xã tín
dụng nông nghiệp (HTXTDNN) và Tiết kiệm Bưu điện. Tổ chức Tiết kiệm Bưu
điện là đối thủ cạnh tranh của HTXTDNN.
Chiến lược cung cấp khoản vay nhỏ có liên quan mật thiết với chính sách cho vay
lại để hỗ trợ nông nghiệp. Nguồn vốn từ Ngân hàng Nhân dân Trung quốc cho vay
lại nhằm cung cấp tín dụng vi mô để sản xuất nông nghiệp cho nông dân nghèo.
Đây được coi như nguồn cấp bù của Ngân hàng Nhân dân Trung quốc dành cho
HTXTDNN với mức lãi suất thấp (2-3%/năm). HTXTDNN gần như là nhà cung
cấp dịch vụ cấp làng xã duy nhất , đặc biệt tại các vùng nghèo.
Cơ cấu tổ chức và nguồn lực của chính phủ Trung Quốc rất mạnh nhưng lại không
có sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ. Ở khu vực nông thôn, tổ chức tín
dụng vi mô cấp cơ sở theo đơn vị làng và theo đó cuộc họp hàng tuần của trung tâm

Trang 33

sẽ được thay thế bằng cuộc họp của cả làng và trưởng làng sẽ giữ một số vị trí nhất
định. Ở khu vực thành thị, liên hiệp các doanh nghiệp và các cơ quan dưới cấp
huyện sẽ là tổ chức tín dụng vi mô cấp cơ sở và vì vậy rất khó thành lập các tổ tiết
kiệm và vay vốn cho các tổ chức này. Vì vậy, mô hình Grameen được áp dụng tại
Trung Quốc không tổ chức các cuộc họp của tổ tiết kiệm và vay vốn . Những điều
chỉnh này có thể giúp hoạt động tín dụng vi mô vượt qua một số rào cản. (Lê Thanh
Tâm, 2008)
Tổ chức quản lý hoạt động tín dụng vi mô có thể do văn phòng chương trình cấp
thành phố trực tiếp thực hiện hoặc thông qua thiết lập một văn phòng riêng. Nếu áp
dụng trường hợp đầu, văn phòng chương trình thường do một cơ quan thuộc chính
phủ hỗ trợ và trưởng văn phòng thường là cán bộ của cơ quan chính phủ. Nếu áp
dụng trường hợp thứ hai, văn phòng TCVM sẽ đến văn phòng xã hội của địa
phương đăng ký hoạt động như một tổ chức xã hội, thành viên ban giám đốc thường
là các cán bộ nhà nước ở địa phương và chủ tịch thường là phó thị trưởng thành
phố/phó chủ tịch tỉnh. Các văn phòng này đóng chức năng là đầu mối của chính phủ
trong việc hỗ trợ các thể chế TCVM.Với việc mở rộng các dự án thí điểm và một số
dự án đã đạt được mục tiêu ban đầu, từ năm 1997 hoạt động tín dụng vi mô cấp cơ
sở đã bước đầu có thể tự chủ về mặt tài chính. Hơn nữa, Trung Quốc bắt đầu học
hỏi thêm kinh nghiệm thành công từ các quốc gia khác ngoài mô hình ngân hàng
Grameen của Bangladesh. Từ đó, Trung Quốc đã nhận ra được tầm quan trọng của
mục tiêu tự chủ về tài chính. Tuy nhiên, những thách thức về quản lý và hoạt động
còn gây nhiều tranh cãi. Các chương trình không còn đạt được tỷ lệ thu hồi nợ
100%, tỷ lệ rủi ro tăng, một số chỉ số không còn được như ở giai đoạn đầu và nếu
muốn tăng cường quản lý và cải thiện hệ thống thì chi phí sẽ tăng lên. Vì vậy, mục
tiêu đảm bảo tự chủ về tài chính trở nên xa vời.
Có thể thấy Trung Quốc là hình mẫu tiêu biểu cho hoạt động tài chính vi mô dưới
sự quản lý của nhà nước, tuy nhiên ở đây bộ lộ yếu điểm cơ bản của việc bao cấp là
xác định đối tượng và tỷ lệ trả nợ thấp. Tuy được hỗ trợ từ nhà nước, nhưng các

Trang 34

chương trình TCVM dưới sự quản lý của hệ thống hành chính địa phương đã mất đi
tính chuyên nghiệp và sự tự chủ trong hoạt động.
Việc mất đi sự tự chủ và tính chuyên nghiệp trong việc quản lý các hoạt của TCVM
làm cho hiệu quả giảm đi, các cán bộ hoạt động theo dạng bán chuyên trách, không
có các hoạt động nhóm, tổ do đó việc đi sâu đi sát đến khách hàng là hạn chế, đồng
thời với cơ chế bao cấp lãi suất, làm giảm hiệu quả cuả nguồn vốn xóa đói giảm
nghèo.

2.2.3 Hoạt động TCVM ở Thái Lan:
Chính phủ Thái Lan rất quan tâm và tạo điều kiện cho các chương trình tài chính vi
mô; Kết hợp các nhiệm vụ và trách nhiệm của Chính phủ cùng các cơ quan liên
quan nhằm xây dựng và thúc đẩy các khung pháp lý hỗ trợ mạnh mẽ cho hoạt động
của các TCTCVM, tạo lập và mở rộng mạng lưới quản lý. (Lê Thị Phí Hà, 2009).
Để quản lý hoạt động tài chính vi mô thành công, Chính phủ Thái Lan luôn chú
trọng tới việc ban hành các quy định về giám sát và điều hành phù hợp để hỗ trợ các
tổ chức tín dụng vi mô xây dựng được một hệ thống quản lý rủi ro tốt và xây dựng
văn hóa riêng cho từng tổ chức.
Bên cạnh việc coi trọng rủi ro tín dụng, Chính phủ Thái Lan cũng rất quan tâm đến
các rủi ro khác như rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động của các TCTCVM.
Với những chiến lược trên cho thấy Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm đến phát
triển lĩnh vực tài chính vi mô như một công cụ xóa đói giảm nghèo hữu hiệu và có
những hỗ trợ về môi trường pháp lý cho ngành tài chính vi mô
Hiện nay ở Thái Lan, có rất nhiều tổ chức tín dụng vi mô, tuy nhiên, tôi chỉ đề cập
đến 3 tổ chức: Hợp tác xã tín dụng Thái Lan (BAAC), hiệp hội tín dụng Klongchan
và Liên đoàn hiệp hội tín dụng Thái Lan
a.

Hoạt động tài chính vi mô của BAAC

Với mục tiêu nâng cao đời sống của nông dân Thái Lan thông qua việc hỗ trợ tài
chính cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, hoạt động đầu tư và Marketing sản

Trang 35

phẩm nông nghiệp, BAAC có nhiệm vụ tìm kiếm nguồn vốn cho hoạt động tài
chính vi mô đảm bảo chi phí hoạt động hiệu quả và quản lý tài chính bền vững.
Cung cấp các dịch vụ tín dụng tới người nông dân để giúp họ nâng cao hiệu quả sản
xuất; phát triển các sản phẩm mới cho người nông dân và mở rộng điểm giao dịch
để tăng khả năng tiếp cận của nông dân tới các dịch vụ tài chính của BAAC mà
không tốn chi phí của họ; phát triển và cung cấp các dịch vụ nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống.
Để hỗ trợ người dân một cách hiệu quả, BAAC cung cấp đa dạng các dịch vụ tài
chính vi mô tới người dân, bao gồm: Dịch vụ tiền gửi; cho vay; dịch vụ thanh toán;
dịch vụ chuyển tiền; dịch vụ bảo hiểm cho các hộ nghèo, hộ thu nhập thấp và các
doanh nghiệp nhỏ. Đa dạng các dịch vụ giúp người dân có nhiều cơ hội lựa chọn
dịch vụ của ngân hàng. Không chỉ đa dạng về các sản phẩm và dịch vụ, BAAC còn
cung cấp vốn vay tới người dân bằng rất nhiều hình thức cho vay khác nhau như:
Cho vay trực tiếp tới khách hàng vay vốn; cho vay thông qua các hợp tác xã; cho
vay thông qua các hiệp hội; cho vay thông qua các ngân hàng làng; cho vay qua các
nhóm tương hỗ; cho vay dưới sự bảo lãnh của ngân hàng.
Với dịch vụ đa dạng và nhiều phương thức hỗ trợ vốn vay khác nhau, hoạt động tài
chính vi mô của BAAC đã giúp người nghèo ở khu vực nông thôn có khả năng
tham gia vào phát triển sản xuất nông nghiệp và các hoạt động liên quan đến nông
nghiệp. Nhiều hộ gia đình có đủ năng lực quản lý doanh nghiệp nhỏ.
Một trong các hoạt động tài chính vi mô đóng vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của tài chính nông thôn đó là hoạt động tín dụng vi mô. BAAC cung cấp các
món vay nhỏ tới người nghèo không có tài sản thế chấp, có nghề nghiệp ổn định và
lịch sử tín dụng tốt. Hoạt động tín dụng vi mô cho phép người nghèo thực hiện các
dự án nhỏ nhằm nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống và thoát nghèo.
BAAC thực hiện cho vay bán buôn đến các tổ nhóm và các tổ nhóm sẽ cho các
thành viên vay lại. Đồng thời, BAAC sẽ thực hiện cho vay nếu như tổ nhóm đảm
bảo đầy đủ các điều kiện sau:

Trang 36



Một là, tổ nhóm phải chứng minh được có khả năng quản lý hoạt động

SXKD, có kế hoạch sản xuất cụ thể.


Hai là, tổ nhóm phải có điều lệ hoạt động rõ ràng.



Ba là, các thành viên phải sống cùng địa phương/cộng đồng.



Bốn là, lĩnh vực SXKD phải phù hợp với hoạt động nông nghiệp, tuân thủ

các quy tắc của cộng đồng nơi sinh sống.


Năm là, tổ nhóm phải đảm bảo truyền đạt được kỹ năng SXKD cho các

thành viên.
Đối với các tổ nhóm đã phát triển theo hướng một doanh nghiệp tài chính nhỏ hoạt
động dựa trên cộng đồng thì BAAC chỉ cung cấp món vay nếu tổ nhóm chứng minh
được việc thực hiện tiết kiệm bắt buộc và cho vay lại các thành viên trong nhóm để
họ tự SXKD. BAAC phân loại khách hàng là các tổ nhóm hoặc các doanh nghiệp
tài chính nhỏ dựa trên cộng đồng với các tiêu chí: Tổ nhóm đã phát triển thành một
tổ nhóm vững mạnh; có hệ thống quản lý tài chính tốt; có hệ thống kiểm tra nội bộ,
hệ thống văn bản và quản lý tài chính chuẩn; có quy tắc hoạt động rõ ràng về chất
lượng thành viên, tiết kiệm, vốn góp của các thành viên, phân chia cổ tức, phúc lợi
xã hội, chế độ hợp thành của các thành viên và các quy định cần thiết khác về hoạt
động của tổ nhóm; phải có hội đồng quản lý với sự tham gia của các thành viên có
năng lực, tư cách đạo đức tốt.
b.

Hiệp hội tín dụng Klongchan

Hiệp hội tín dụng Klongchan được thành lập ngày 4/12/1983 với mục tiêu ban đầu
là hỗ trợ những người dân sống trong cộng đồng gặp khó khăn khi chuyển đến nơi ở
mới. Đến năm 1986, hiệp hội tín dụng đã trở thành tổ chức có địa vị pháp lý và trở
thành thành viên của Liên đoàn các hiệp hội tín dụng Thái Lan. Kinh phí hoạt động
của hiệp hội do chính những thành viên của hiệp hội đóng góp.
Hiệp hội tín dụng Klongchan được coi là “bà đỡ” đối với cộng đồng người nghèo
của vùng Klongchan, hỗ trợ tín dụng cho các thành viên với những quy định rất chặt

Trang 37

chẽ về vốn góp ban đầu. Bên cạnh việc hỗ trợ về tín dụng, hiệp hội còn thực hiện
các hoạt động khác như: Hỗ trợ rủi ro đối với các khoản vay của thành viên; thành
lập quỹ tương hỗ để hỗ trợ các thành viên gặp khó khăn.
c.

Liên đoàn hiệp hội tín dụng Thái Lan

Liên đoàn hiệp hội tín dụng Thái Lan được thành lập tháng 4 năm 2005, tiền thân là
một bộ phận trong Liên đoàn các hợp tác xã Thái Lan.
Liên đoàn các hợp tác xã Thái Lan được thành lập năm 1968 với nhiệm vụ hỗ trợ sự
phát triển của các hợp tác xã tín dụng Thái Lan trong các lĩnh vực nông nghiệp, bao
gồm: các hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã ngư nghiệp, hợp tác xã giải quyết vấn
đề đất đai; phi nông nghiệp, bao gồm: Các hợp tác xã dịch vụ, hợp tác xã người tiêu
dùng, hiệp hội tín dụng và hợp tác xã tín dụng và tiết kiệm. Sau khi được tách ra,
nhiệm vụ chính của Liên đoàn hiệp hội tín dụng Thái Lan là: Đẩy mạnh vai trò của
các hiệp hội tín dụng; hỗ trợ các hiệp hội tín dụng nâng cao trình độ quản lý chuyên
nghiệp; nâng cao vị thế của liên đoàn như trung tâm các dịch vụ tài chính, giáo dục
và công nghệ thông tin; đại diện cho các hiệp hội tín dụng trong các hoạt động trong
và ngoài nước.
Liên đoàn hoạt động dựa trên vốn góp của các thành viên là các hiệp hội tín dụng,
đối tượng hỗ trợ của liên đoàn là các hiệp hội tín dụng thành viên. Để có thể phát
triển bền vững và tự chủ, bên cạnh vốn của các thành viên, liên đoàn hiệp hội tín
dụng Thái Lan còn thực hiện đa dạng các chương trình và dịch vụ như: Đào tạo tập
huấn về kế toán, quản lý tín dụng, đào tạo tiểu giáo viên, đào tạo cán bộ quản lý, tài
chính vi mô, công nghệ thông tin… bên cạnh việc tổ chức các chương trình đào tạo
cho các thành viên của liên đoàn, liên đoàn còn thực hiện kiểm toán các thành viên,
tổ chức các chương trình thực địa; cung cấp các dịch vụ về tổ chức hội thảo (phòng
họp, chỗ ở,…) cho mọi đối tượng. Ngoài ra, liên đoàn còn triển khai các chương
trình dành riêng cho thanh niên và phụ nữ nhằm giúp họ tìm kiếm cơ hội nâng cao
thu nhập thông qua các hoạt động đào tạo, giao lưu học hỏi. Một số dịch vụ điển

Trang 38

hình của liên đoàn như: Chương trình bảo trợ rủi ro; Dịch vụ bảo hiểm nhân sinh;
Quỹ rủi ro; Quỹ tương hỗ.
Liên đoàn các hiệp hội tín dụng Thái Lan là một ví dụ điển hình cho mô hình
TCTCVM hoạt động ở tầm vĩ mô, có trách nhiệm hỗ trợ các TCTCVM thành viên
thực hiện tốt trách nhiệm trước cộng đồng.
Hình thức cho vay và quản lý tín dụng tại BAAC, Hiệp hội tín dụng Klongchan,
Liên đoàn hiệp hội tín dụng Thái Lan


Thứ nhất, BAAC đưa ra rất nhiều sản phẩm cho vay đa dạng, tạo điều kiện

thuận lợi cho các khách hàng có khả năng lựa chọn sản phẩm. Ngoài ra, việc tiếp
cận được với những khách hàng tại cấp cơ sở thông qua các tổ nhóm đã cho thấy
tính hiệu quả trong việc cung cấp vốn tới các khách hàng và sự thuận lợi trong quản
lý vốn vay.


Thứ hai, theo BAAC việc cho vay với lãi suất thị trường đi kèm với chất

lượng phục vụ tốt sẽ đảm bảo được tính bền vững và giảm sự bao cấp của Chính
phủ.


Thứ ba, theo Hiệp hội tín dụng Klongchan và Liên đoàn hiệp hội tín dụng

Thái Lan thì sự đóng góp của các thành viên vào hoạt động của tổ chức đóng vai trò
quan trọng nhất đến sự tồn tại và phát triển của hiệp hội. Ngoài ra, việc đa dạng hóa
các sản phẩm cung cấp tới khách hàng quyết định sự vững mạnh của tổ chức.


Thứ tư, việc áp dụng công nghệ tiên tiến trong quy trình phê duyệt khoản vay

sẽ giúp xử lý phân tích khoản vay chính xác, nhanh chóng và hiệu quả giảm được
chi phí xử lý rủi ro.


Thứ năm, các ngân hàng còn luôn có các chương trình dạy nghề, xúc tiến

việc làm, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho người dân, nhờ vậy họ có thể có một
công việc ổn định, đảm bảo và thu nhập cao hơn. Đây thực sự là một sự hỗ trợ
mang tính lâu dài, thể hiện sự quan tâm và thấu hiểu nhu cầu người dân của Hiệp
hội tín dụng Thái Lan cũng như của BAAC

Trang 39

Như vậy ở Thái Lan, chính phủ rất quan tâm đến phát triển TCVM để đạt mục tiêu
xóa đòi giảm nghèo, tuy nhiên vai trò của chính phủ chỉ nằm ở tầm vĩ mô, hỗ trợ
các TCVM về hành lang pháp lý và các hoạt động giám sát. Đặc biệt là hoạt động
giám sát các rủi ro đối với TCTCVM
Trong khi đó, các tổ chức TCVM hoàn toàn tự chủ trong hoạt động của mình, họ
được toàn quyền tự do lựa chọn các hình thức phát triển sản phẩm dịch vụ đa dạng,
mở rộng khả năng tiếp cận TCVM cho người nghèo. Bên cạnh đó họ còn thường
xuyên tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ cho người nghèo giúp người nghèo có
công việc và thu nhập ổn định
Nhờ sự kết hợp đồng bộ giữa chính phủ và các tổ chức TCVM, hoạt động của các
tổ chức TCVM tại Thái Lan rất hiệu quả, và các chương trình TCVM đang là công
cụ giảm nghèo hữu hiệu tại Thái Lan.

2.2.4 Hoạt động TCVM ở Ấn Độ:
Ấn Độ là một nước đông dân nghèo nhất thế giới, Ấn Độ xem TCVM là một công
cụ hữu ích cho công cuộc xoá đói giảm nghèo. Tài chính vi mô ở Ấn Độ có nguồn
gốc từ những năm 70 khi Hiệp hội các công nhân nữ của bang Guijarat hình thành
một ngân hàng hợp tác xã đô thị, được gọi là ngân hàng Shri Mahila SEWA
Sahakari, với mục tiêu cung cấp dịch vụ ngân hàng cho những phụ nữ nghèo làm
việc trong khu vực không có tổ chức ở thành phố Ahmedabad, Gujarat. Ngành tài
chính vi mô tiếp tục phát triển trong những năm 1980 xung quanh khái niệm về
Nhóm tự trợ giúp (SHGs). Từ những khởi đầu khiêm tốn, ngành TCVM Ấn Độ đã
phát triển đáng kể trong những năm qua. Các cơ quan như Ngân hàng phát triển
ngành công nghiệp nhỏ của Ấn Độ, Ngân hàng Quốc gia Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đã dành nguồn lực đáng kể cho tài chính vi mô.
Đối tượng của tài chính vi mô ở Ấn Độ hiện nay không chỉ là những phụ nữ nghèo
mà hướng tới tầng lớp dân cư nghèo, có thu nhập thấp.
Tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô