Tải bản đầy đủ
1Các mô hình TCVM tiêu biểu

1Các mô hình TCVM tiêu biểu

Tải bản đầy đủ

Trang 24

giản là phụ nữ ít trốn nợ hơn mà là do họ được gia đình cử đi vay và đứng sau họ
(lao động để trả nợ) chính là chồng và con họ. Tác động xấu của việc này là nhiều
trường hợp hộ sản xuất nhỏ đã phải cho con nghỉ học để ở nhà làm thêm.
Tín dụng vi mô còn có tác động tích cực đến việc kích thích năng khiếu kinh doanh
nhỏ của người vay, đặc biệt là phụ nữ. Để sử dụng vốn vay thành công, tự thân
người vay phải tìm tòi cách tính toán đồng tiền cho hiệu quả, nâng cao các kỹ năng
sản xuất hộ gia đình (chăn nuôi, làm hàng thủ công, gia công), các kỹ năng bán
hàng (tiếp thị, mở rộng quan hệ ra vùng xung quanh hoặc vùng xa)
Mô hình này được áp dụng: Grameen Bank và ủy ban vì sự tiến bộ ở nông thôn
Bangladesh, Tulay sa Pag – Unlad, Inc; Dự án Dungganon ở Philippines; ở Việt
Nam có các tổ chức áp dụng mô hình này là TYM, dự án Việt-Bỉ, CIDSE (cơ quan
hợp tác quốc tế vì sự phát triển và đoàn kết)

2.1.2 Mô hình ngân hàng làng
Mô hình này được Tổ chức trợ giúp cộng đồng quốc tế (FINCA) phát triển vào giữa
thập kỷ 80.
Phương pháp: khách hàng lập thành các nhóm tối thiểu từ 15 – 20 thành viên, đa số
là phụ nữ, vốn vay được chia đều cho các thành viên, và mỗi thành viên đều sở hữu
một “cổ phần” của ngân hàng. Tất cả các thành viên đều phải ký một thỏa ước vay
vốn nhằm đưa ra sự bảo đảm chung. Số tiền cho ngân hàng làng xã vay thường dựa
trên tổng tất cả các yêu cầu vay của các thành viên. Các món vay với ngân hàng
làng xã thường được cung ứng theo chu kỳ cố định, thường từ 10 đến 12 tháng, với
việc thanh toán toàn bộ số tiền vào cuối kỳ. Số tiền vay tiếp sau có liên hệ với số
tiền tổng cộng được tiết kiệm bởi các thành viên ngân hàng. Các ngân hàng làng có
mức độ kiểm soát dân chủ cao và độc lập. Các cuộc họp hàng tháng nhằm thu các
khoản tiền tiết kiệm, giải ngân các món vay, tham dự các vấn đề về quản lý vầ nếu
có thể, tiếp tục các khoá đào tạo với cán bộ TCTCVM.
Sản phẩm: Các món vay có lãi suất thương mại (1 – 3%/tháng) và lãi suất sẽ cao
hơn nếu nguồn cho vay xuất phát từ một khoản tài trợ nội bộ. Một vài ngân hàng đã

Trang 25

mở rộng cung cấp dịch vụ bao gồm cả giáo dục về đổi mới nông nghiệp, dinh
dưỡng và y tế. Tiết kiệm của các thành viên gắn liền với số tiền vay và được sử
dụng để tài trợ cho những món vay mới hoặc cho những hoạt động tạo thu nhập.
Mô hình tài chính vi mô đã được áp dụng: Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV), Tầm
nhìn thế giới (WVI), CARE ở Guatermala.

2.1.3 Nhóm đoàn kết
Mô hình này được ACCION International phát triển tại Châu Mỹ Latinh
Phương pháp thực hiện: Vốn vay được cung cấp cho các nhóm từ 4-7 thành viên
hơn là cho cá nhân, tự các thành viên sẽ chia đều vốn cho nhau. Khách hàng thường
là những doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực phi chính thức, chẳng hạn những nhà
buôn hoặc người kinh doanh cần một lượng vốn hoạt động nhỏ. Các thành viên
trong nhóm cùng bảo đảm việc hoàn trả món vay, và việc tiếp cận các món vay tiếp
theo phụ thuộc vào sự hoàn trả thành công của tất cả các thành viên trong nhóm.
Các khoản thanh toán được thực hiện hoàn toàn tại trụ sở của chương trình. Mô
hình cũng kết hợp sự hỗ trợ kỹ thuật tối thiểu tới người vay, chẳng hạn huấn luyện
và xây dựng tổ chức. Các khoản tiết kiệm thường được đòi hỏi nhưng nhiều khi
được khấu trừ số tiền vay vào thời điểm giải ngân món vay chứ không nhất thiết đòi
hỏi khách hàng phải tiết kiệm trước khi nhận được món vay. Số tiền tiết kiệm về cơ
bản phục vụ nhu một số dư bù đắp, bảo đảm cho một phần của số tiền vay.
Sản phẩm: Số tiền vay ban đầu thường nằm trong khoản $100 đến $200. Những
món vay sau đó không có giới hạn trên. Lãi suất thường khá cao và dịch vụ cũng
được tính gộp. Các khoản tiết kiệm thường được yêu cầu như một phần của món
vay. Một vài tổ chức khuyến khích việc thiết lập các quỹ cứu trợ khẩn cấp trong nội
bộ nhóm để hoạt động như một phương tiện bảo đảm an toàn. Có rất ít sản phẩm
tiết kiệm tự nguyện được cung cấp.
Mô hình này được áp dụng: BancoSol ở Bolivia; các chi nhánh của ACCION;
Asociacion Grupos Solidarios de Colombia …Ở Việt Nam các tổ chức áp dụng mô

Trang 26

hình này có Tổ chức cứu trợ trẻ em Mỹ và Cơ quan cứu tế và phát triển dòng
Adventis (ADRA).

2.1.4 Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI)
Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI) là một Ngân hàng Nhân dân Indonesia, một
ngân hàng nông thôn thuộc sở hữu nhà nước đã ngừng hẳn việc cung cấp tín dụng
bao cấp và tiến hành một phương pháp vận hành theo các nguyên tắc thị trường.
Đặc biệt, ngân hàng Nhân dân Rakyat Indonesia (BRI) đã phát triển một hệ thống
khuyến khích người vay (những nông dân nghèo) và nhân viên của mình một cách
rất rõ ràng, khen thưởng với những người trả nợ đúng hạn, và hoạt động dưạ trên
huy động tiết kiệm cũng như nguồn vốn của ngân hàng.
BRI với hơn 4.500 văn phòng tại Indonesian Archipelago và 30.000 nhân viên,
ngân hàng này phục vụ một số tài khoản đáng kinh ngạc: 35 triệu tài khoản. Thông
qua mạng cục bộ tại nhiều tỉnh thành ở Indonesia, cho vay những nguồn vốn nhỏ,
thường là vài trăm USD cho những nông dân nghèo và những nhà buôn nhỏ. Mỗi
chi nhánh nhỏ được uỷ quyền hoạt động độc lập với trách nhiệm cân đối tài sản và
lợi nhuận độc lập. Tiền vốn cho vay tại các chi nhánh nhỏ của Ngân hàng BRI tạo
lợi nhuận tới 7% hàng năm. Các chi nhánh này hoàn toàn dựa vào nguồn vốn vay
của địa phương và lãi suất cho vay ở mức cao. Chi phí cho vay 100 USD tương tự
như chi phí dùng để thực hiện việc cho vay những khoản vốn lớn hơn nhiều. Thu
nhập trung bình các khách hàng của Bank Rakyat Indonesia tăng 112%, và 90% hộ
thoát nghèo. Các chuyên gia tín dụng vi mô đều cho rằng giữ mức lãi suất ổn định
và giảm chi phí là cách duy nhất để duy trì chương trình cho người nghèo vay vốn,
những người thường trả lãi suất cao hơn nhiều khi vay vốn bên ngoài.
Đây là mô hình ngân hàng thuộc khu vực chính thức cung cấp dịch vụ tài chính vi
mô. Thành công của BRI chỉ ra rằng cho vay tín dụng vi mô có thể giúp duy trì sự
ổn định dài hạn của ngân hàng, kể cả trong thời gian có khủng hoảng (1997 – 1998).
Vào thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng Châu Á, Ngân hàng BRI vẫn tổng
kết có lãi trước thuế 89 triệu USD trong mảng cho vay tín dụng, trong khi bộ phận

Trang 27

hợp tác và cho vay vốn khác đã chịu lỗ 3.4 tỷ USD. Kinh nghiệm của BRI cho thấy,
cho vay vốn tín dụng vi mô là một phương pháp hiệu quả để thử nghiệm vào một thị
trường còn chưa được khai thác hết – thị trường tín dụng cho người nghèo. BRI đưa
ra bài học cho những ngân hàng thương mại lớn nhất Châu Á vẫn chưa thu hồi được
những nguồn vốn cho vay lớn, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á
(1997 – 1998). Với hầu hết các Ngân hàng Thương mại, cho người nghèo vay vốn
không phải là giải pháp kinh doanh tốt. Nhưng Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI)
đã chứng tỏ rằng tín dụng vi mô có thể tạo ra lợi nhuận cao ít rủi ro, thậm chí còn
giúp duy trì sự ổn định dài hạn cho ngân hàng. BRI là một ngân hàng được xếp loại
là ngân hàng tốt nhất thế giới. Đây cũng là một điển hình khuyến khích các ngân
hàng thương mại tham gia vào hoạt động tài chính vi mô

2.1.5 Đặc điểm chung của các mô hình
- Đa số khách hàng của các mô hình tổ chức trên đều là phụ nữ nông thôn hoặc
thành thị gặp khó khăn về kinh tế, thỏa mãn các điều kiện của tổ chức vi mô đã đề
ra.
- Các mô hình tổ chức TCVM trên đều cung cấp nhiều loại hình sản phẩm tín dụng,
hầu hết các khách hàng bắt đầu với sản phẩm tín dụng cơ bản – vốn vay sản xuất
ngắn hạn, không cần tài sản thế chấp. Mức vốn từ 6,5$ đến 300$, lãi suất từ 0,9%
đến 3%/tháng, kỳ hạn vốn từ 6 tháng đến 12 tháng nhưng không bao giờ quá 24
tháng. Sau khi trả hết khoản vay và lãi lần đầu, các khách hàng có thể được vay số
tiền lớn hơn ở các vòng vay kế tiếp. Có thể trả hàng tuần, 2 tuần một lần hoặc hàng
tháng.
- Các mô hình tổ chức trên đều áp dụng hình thức nhóm, các thành viên trong nhóm
có trách nhiệm và bảo lãnh cho nhau trước các khoản vay trong các buổi sinh hoạt
cụm, nhóm được tổ chức thường xuyên, nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.
- Yêu cầu về tiết kiệm bắt buộc như một điều kiện để vay vốn.

Trang 28

- Đa số các mô hình trên đều có sự gắn kết mật thiết với các đoàn thể xã hội, chính
quyền địa phương, tạo thuận lợi trong việc hiểu rõ được đời sống, nhu cầu cũng như
nguồn thu nhập chính của khách hàng.
- Hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt và có kỷ luật nhằm kiểm soát việc sử dụng vốn
và đảm bảo việc hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của thành viên.

2.2Hoạt động TCVM ở một số quốc gia:
2.2.1 Hoạt động tài chính vi mô ở Banglades:
Tài chính vi mô thực sự được nhiều người biết đến từ những năm 70 của thế kỷ 20
khi Muhammad Yunus thành lập ngân hàng Grameen và tiến hành nghiên cứu đầu
tiên tại thị trấn Jobra, gần trường Đại học Chittagong, Bangladesh. Kể từ thời điểm
này, rất nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ tài chính vi mô đã thành công trong việc tiếp
cận với những người nghèo, thậm chí là những người rất nghèo, với mục tiêu giúp
họ tiếp cận được nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
và nâng cao điều kiện sống. Chính vì vậy, dịch vụ này đã thực sự trở thành một yếu
tố quan trọng nhằm hỗ trợ người nghèo, và đặc biệt giúp cho phụ nữ vùng nông
thôn có tư duy độc tập, tự tin và dần tìm được chỗ đứng của mình trong gia đình và
xã hội.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy chương trình tài chính vi mô có nhiều tác động
tích cực tới việc nâng cao mức sống của người nghèo. Dịch vụ này không chỉ giúp
họ dần thoát khỏi “đường nghèo” mà còn trang bị cho họ những kiến thức hay kỹ
năng để tự phát triển bản thân, đó mới chính là mục tiêu lâu dài mà chương trình
này muốn hướng tới. Thực tế, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, lãi suất áp dụng đối
với người nghèo là cao, thậm chỉ rất cao và dường như đi ngược với mục tiêu ban
đầu của tài chính vi mô. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu, người dân được phỏng
vấn phần lớn cho rằng mức lãi suất này là hợp lý và họ đều chung quan điểm về
những lợi ích mà chương trình này mang lại, không chỉ giúp người nghèo tiếp cận
nguồn vốn ưu đãi mà còn góp phần đáng kể trong việc phát triển nguồn nhân lực tại
Bangladesh.

Trang 29

Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tiêu biểu:
* Ngân hàng Grameen
Khi nghiên cứu về các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tại
Bangladesh, chúng ta không thể không đề cập tới ngân hàng Grameen – đơn vị tiên
phong trong việc thành lập và đưa nền công nghiệp hiện đại này vào hoạt động với
mục tiêu giúp người dân dần thoát nghèo. Ngân hàng này được Giáo sư Mohammad
Yunus thành lập vào năm 1976 khi ông tiến hành dự án với nội dung nghiên cứu
khả năng thiết kế hệ thống tín dụng nhằm cung cấp dịch vụ ngân hàng tại những
khu vực nông thôn khó khăn. Ban đầu, mô hình tài chính vi mô chỉ được Yunus
triển khai tại thị trấn Jobra, sau này, ông đã mở rộng quy mô hoạt động của chương
trình ra một số tỉnh khác trên đất nước Bangladesh. Vào tháng 10 năm 1983, dự án
ngân hàng Grameen được chuyển thể thành ngân hàng trực thuộc Chính phủ
Bangladesh. Và cho đến ngày nay, ngân hàng này chính thức hoạt động dưới sự
điều hành của những người dân nghèo vùng nông thôn – những “vị khách” mà ngân
hàng phục vụ. Cụ thể, 94% số cổ phiếu do người đi vay nắm giữ, phần còn lại 6%
được quản lý bởi Chính phủ nước này.
* Ngân hàng PKSF
PKSF là một Ngân hàng tài chính vi mô bán buôn được Chính phủ
Bangladesh thành lập vào tháng 5 năm 1990. PKSF hoạt động vì mục tiêu phi lợi
nhuận thông qua việc cho vay bán buôn cho các TCTCVM ở cộng đồng. Hiện nay
PKSF cho vay 233 TCTCVM ở cộng đồng, qua các tổ chức này PKSF đã gián tiếp
hỗ trợ 5,74 triệu hộ gia đình với dư nợ hơn 2 tỷ USD.
Các dịch vụ tài chính vi mô
a. Tín dụng vi mô
Với vị trí là quốc gia đầu tiên áp dụng dịch vụ tài chính vi mô, hiển nhiên
những thành quả mà Bangladesh gặt hái được qua chương trình này hoàn toàn được
quốc tế ghi nhận. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu gần đây, ngành tín dụng vi mô