Tải bản đầy đủ
2 Các khái niệm cơ bản trong Tài chính vi mô

2 Các khái niệm cơ bản trong Tài chính vi mô

Tải bản đầy đủ

Trang 16

những người nghèo và rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính,
nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức.

1.2.2 Đối tượng của tài chính vi mô
Đối tượng của TCVM là những người nghèo, các hộ gia đình nghèo, nhưng họ phải
là những người có khả năng lao động và có nghề nghiệp. Những người nghèo này
cần nhu cầu vốn vay nhỏ để làm tiền đề mở rộng khả năng sản xuất, kinh doanh
nhằm tăng thu nhập cho gia đình để thoát khỏi cảnh nghèo khó. Người nghèo cũng
cần các công cụ tài chính khác để tích lũy tài sản, bình ổn tiêu dùng và tự bảo vệ
mình trước rủi ro.
Tài chính vi mô cũng nhắm đến đối tượng ưu tiên là phụ nữ nghèo vì phụ nữ thường
đặt nhu cầu của con cái họ lên trên nhu cầu bản thân, việc cho họ khả năng củng cố
kinh tế gia đình thường là cách hiệu quả nhất để tác động lên cả gia đình. Đồng thời
phụ nữ chiếm tỉ lệ thất nghiệp cao hơn nam giới ở hầu hết các quốc gia và hình
thành phần đông của khu vực tự do của hầu hết các nền kinh tế. Việc cấp vốn cho
phụ nữ đã mang lại hiệu quả gấp bội. Đồng thời giúp nâng cao vị thế của người phụ
nữ trong xã hội. Rất nhiều chương trình quốc tế gắn liền tài chính vi mô với phát
triển vai trò và độc lập của phụ nữ.

1.2.3 Nội dung hoạt động của TCVM
Hoạt động chính của TCVM là cung cấp các khoản tín dụng nhỏ cho các đối tượng
nghèo không cần tài sản thế chấp, bên cạnh đó TCVM cũng cung ứng các dịch vụ
tài chính khác như tiết kiệm, bảo hiểm...
Tài chính vi mô cung cấp dịch vụ tín dụng ngay trên địa bàn mà người vay và tiết
kiệm sinh sống, thường là ở khu vực nông thôn. Đây là lý do thu hút được nhiều
người tham gia, giảm chi phí tín dụng, tăng tính tiết kiệm và tính cộng đồng.
Phương pháp TCVM được xây dựng đáp ứng cho từng cá nhân hay nhóm khách
hàng tham gia. Các TCTCVM thường cung cấp tín dụng theo ba hình thức: cho vay

Trang 17

cá thể; cho vay theo nhóm tương hỗ và cho vay gián tiếp theo nhóm tương hỗ qua
trung gian thứ ba (các đoàn thể xã hội).
Những người nghèo, được tham gia mượn vốn, tiết kiệm, và các dịch vụ tài chính
khác. Bên cạnh các dịch vụ về tài chính, các TCTCVM còn thực hiện nhiều hoạt
động phi tài chính vì mục đích phát triển khác như đào tạo, huấn luyện…. Đồng
thời, được tiếp cận với bảo hiểm vi mô, người nghèo có thể đương đầu với sự tăng
giá đột ngột, hay tài sản, vật nuôi bị bệnh dịch, chết, hoặc bị mất. Việc được mượn
vốn cũng cho phép người nghèo tận dụng được những cơ hội phát triển kinh tế.
Theo đó, khi vay vốn những người nghèo này phải có kế hoạch kinh doanh cụ thể
để có khả năng trả nợ trong một kỳ hạn được yêu cầu. Nếu không thì họ có thể sẽ
không được lợi từ số tiền mượn và có nguy cơ bị đẩy vào tình trạng nợ nần. Từ đó
người nghèo sẽ có những thay đổi trong thói quen tiêu dùng biến đổi từ “kiếm sống
hằng ngày” sang “lập kế hoạch cho tương lai”, nhờ đó mà cải thiện dần dần đời
sống gia đình.
Một vài đặc điểm riêng của TCVM
Thứ nhất: tài chính vi mô phải tính lãi suất cao, bởi việc cung cấp các dịch vụ tài
chính cho người nghèo rất tốn kém, đặc biệt khi so sánh với quy mô cho vay. Các
khoản vay nhỏ thì cũng đòi hỏi chi phí về nhân sự và các nguồn lực khác tương tự
như khoản cho vay lớn, thậm chí còn nhiều hơn, cán bộ tín dụng phải đến thăm nhà
cửa, cơ sở làm ăn của người vay, đánh giá độ tin cậy của người vay thông qua các
cuộc phỏng vấn các thành viên gia đình và những người quen khác của người vay,
và có khi còn phải thường xuyên đến gặp người vay để nhắc nhở họ về việc trả nợ.
Vì thế, tỷ lệ chi phí giao dịch so với tổng tiền vay của các khoản vay nhỏ thường
cao.
Thứ hai là cơ chế trách nhiệm liên đới áp dụng giữa những người vay. Việc quản lý
do một nhóm những người đi vay đảm bảo khả năng thu hồi vốn vay tốt hơn do áp
lực nhóm cũng như sự lo sợ về “trừng phạt xã hội” của những người trong nhóm đối
với người vay không tuân thủ theo hợp đồng. Phương pháp này đã chứng tỏ rất

Trang 18

thành công ở nhiều quốc gia khác nhau áp dụng mô hình ngân hàng Garmeen Bank.
Ở Việt Nam, mô hình này cũng đã được nhiều tổ chức ứng dụng như NHNo (thử
nghiệm từ năm 1998), NHCS (2005), quỹ TYM (1999), quỹ CEP (2004), tuy nhiên
mức độ ứng dụng là khác nhau đối với từng tổ chức.
Thứ ba là các khoản vay tuần hoàn: Việc thanh toán đầy đủ một khoản vay sẽ tạo
cơ hội cho lần vay tiếp theo với số lượng nhiều hơn. Cho vay tuần hoàn cho phép hỗ
trợ về quản lý tài chính, tạo động lực cho khách hàng vay vốn tuân thủ theo các
điều khoản trong hợp đồng để có thể vay được nhiều hơn vào lần sau.

1.2.4 Vai trò của tài chính vi mô
Những nghiên cứu về tác động của TCVM cho thấy rằng:
-

TCVM giúp những hộ nghèo vươn lên trong cuộc sống và tự bảo vệ trước những

rủi ro. Nguồn tài chính hạn hẹp của các hộ gia đình chính là nguyên nhân gây ra sự
tổn thương trước các cú sốc này, và do thiếu các dịch vụ tài chính hữu hiệu, các gia
đình bị đẩy vào tình trạng nghèo cùng cực hơn và phải mất nhiều năm để khắc phục.
Các dịch vụ tài chính là một giải pháp đệm trong những trường hợp như người
nghèo đột nhiên bị rơi vào tình trạng quẫn bách, rủi ro trong kinh doanh, lũ lụt, nhà
có người ốm đau, tai nạn, lao động chính bị chết hay kinh doanh trì trệ theo mùa vụ
thường đẩy các gia đình nghèo vào cảnh khốn cùng. Họ có thể rút tiền tiết kiệm
hoặc vay để chi tiêu thay vì bán một tài sản có thể sinh lời, việc bán tài sản này sẽ
làm giảm khả năng tạo thu nhập của họ trong tương lai. Việc sử dụng các dịch vụ
tài chính này cho phép dân cư nông thôn tiếp tục tăng thu nhập và gây dựng tài sản.
-

Việc các hộ có thu nhập thấp sử dụng dịch vụ tài chính sẽ kết hợp với sự cải

thiện đời sống kinh tế và công việc kinh doanh ổn định, phát triển. Bên cạnh đó còn
khuyến khích phát triển khả năng kinh doanh của người nghèo.
-

Bằng việc hỗ trợ cho sự tham gia làm kinh tế của phụ nữ, TCVM giúp trao

quyền cho phụ nữ, từ đó thúc đẩy bình đẳng giới cải thiện đời sống hộ gia đình.

Trang 19

1.2.5 Tổ chức tài chính vi mô là gì?
Tổ chức tài chính vi mô là tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính cho những người có
thu nhập thấp. Hầu hết các TCTCVM đều cho vay tín dụng vi mô và chỉ nhận gửi
những khoản tiết kiệm rất nhỏ từ người vay chứ không phải từ công chúng. Trong
ngành tài chính vi mô, thuật ngữ này dùng để chỉ các tổ chức được thành lập để
cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô, ví dụ: các tổ chức phi chính phủ, liên minh tín
dụng, hợp tác xã tín dụng, ngân hàng thương mại tư nhân, các tổ chức tài chính phi
ngân hàng và một bộ phận của ngân hàng nhà nước.
Tại Việt Nam, khái niệm TCTCVM được định nghĩa trong Nghị định 28/2005/NĐCP như sau: “Tổ chức tài chính qui mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh
vực tài chính, ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và
nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho
các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp”
Theo định nghĩa trên, có thể thấy TCTCVM có các đặc điểm sau:
 TCTCVM là một trung gian tài chính
 Đối tượng phục vụ của TCTCVM là người nghèo, và các hộ gia đình có thu
nhập thấp
 Các dịch vụ tài chính mà TCTCVM cung cấp có giá trị nhỏ.
Nhiều tổ chức phi chính phủ có thể không đồng tình với quan điểm cho rằng, về bản
chất, họ là các tổ chức tài chính (mặc dù họ cung cấp phần lớn các khoản tín dụng
vi mô). Nguyên nhân là do, song song với việc cung cấp tín dụng vi mô, các tổ chức
phi chính phủ còn thực hiện nhiều hoạt động phi tài chính vì mục đích phát triển
khác. Tuy nhiên, xét từ lĩnh vực hoạt động, chúng ta có thể gọi các tổ chức phi
chính phủ là các TCTCVM vì họ tham gia vào việc cung cấp dịch vụ tài chính cho
người nghèo. Tương tự như vậy, một số ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ tài
chính vi mô cũng được gọi là TCTCVM ngay cả khi chỉ một phần rất nhỏ trong tài
sản của họ được huy động cho mục đích cung cấp dịch vụ tài chính vi mô.

Trang 20

Ngoài ra, cũng có các tổ chức khác tham gia vào hoạt động tài chính vi mô và đóng
một vai trò nhất định trong lĩnh vực tài chính. Đó là các trung gian tài chính dựa vào
cộng đồng, như liên minh tín dụng, hiệp hội nhà ở hoạt động trên cơ sở hội viên.
Một số loại hình TCTCVM khác do các nhà kinh doanh hoặc chính quyền địa
phương quản lý thường có quy mô khách hàng lớn hơn so với các tổ chức phi chính
phủ và là một bộ phận trong khu vực tài chính chính thức. Mặc dù loại hình tổ chức
tín dụng vi mô này không tiếp cận được sâu tới những người nghèo như các tổ chức
phi chính phủ, nhưng nhiều người nghèo đã tiếp cận được vốn của các tổ chức này
với mức độ khác nhau.

1.2.6 Các sản phẩm của tài chính vi mô
1.2.6.1 Tín dụng vi mô
Tín dụng vi mô là các khoản vay nhỏ, hoặc rất nhỏ được cung cấp cho các cá nhân,
hộ gia đình nghèo, hoặc các doanh nghiệp nhỏ. Các khoản vay này thường phục vụ
cho mục đích sản xuất, tuy nhiên cũng có những khoản vay tiêu dùng như sửa chữa
nhà cửa, đóng học phí…
Vì đặc trưng của tín dụng vi mô là cho người nghèo vay khoản tiền nhỏ nên tín
dụng vi mô cũng có những nét đặc trưng, khác với tín dụng thông thường. Các
khoản vay này thường có các đặc điểm sau:
 Khoản tiền cho vay rất nhỏ
 Không có tài sản bảo đảm
 Thường cho vay theo nhóm

1.2.6.2

Tiết kiệm vi mô

Tiết kiệm vi mô là hoạt động nhận tiền gửi từ các cá nhân thu nhập thấp của các
TCTCVM, hỗ trợ của người nghèo tích lũy một khoản tiền cho các nhu cầu trong
tương lai, thực tế cho thấy người nghèo cũng có khả năng tiết kiệm.
Do đặc thù của khách hàng, mà tiết kiệm vi mô thường có các hình thức sau:

Trang 21

 Tiết kiệm bắt buộc: Thông thường, mỗi khi TCTCVM cho vay, người vay
phải cam kết phải tham gia gửi tiết kiệm vào TCTCVM, thông thường là các
khoảng tiết kiệm nhỏ, có tính chu kỳ.
 Tiết kiệm tự nguyện
 Tiền gửi có kỳ hạn cho các doanh nghiệp nhỏ

1.2.6.3

Bảo hiểm vi mô:

Bảo hiểm vi mô là các sản phẩm bảo hiểm dành cho người có thu nhập thấp sản
phẩm bảo hiểm phải đạt được 4 điều kiện: (i) sản phẩm phải phục vụ các nhóm
người, các ngành kinh doanh và các khu vực yếu thế, dễ bị tổn thương; (ii) chi phí
thấp; (iii) thủ tục chi trả bảo hiểm thuận tiện và đơn giản; (iv) lãi suất từ sản phẩm
tương đối thấp, xấp xỉ với chi phí đã bỏ ra
Bảo hiểm vi mô cung ứng các sản phẩm được thiết kế một cách phù hợp cho thị
trường có thu nhập thấp và thường bảo hiểm cho rất nhiều lĩnh vực, từ nhân thọ và
chăm sóc sức khỏe tới thời tiết, tài sản, mùa màng, gia súc và thiên tai. Đối tượng
chủ yếu là nông dân và khu vực nông thôn, những người có thu nhập thấp.

1.2.6.4

Các sản phẩm khác:

Ngoài các sản phẩm phổ biến như kể trên, các TCTCVM còn cung cấp một số sản
phẩm dịch vụ tài chính khác như: dịch vụ thanh toán, chuyển tiền.

Kết luận chương 1:
Tài chính vi mô đã xuất hiện từ cách đây khoảng 200 năm với mục đích hỗ trợ
người nghèo trong việc tạo công ăn việc làm và nguồn vốn để khởi nghiệp.
Tài chính vi mô là lĩnh vực tài chính chuyên cung ứng các dịch vụ tài chính được
thiết kế đặc biệt để phục vụ cho tầng lớp người nghèo trong xã hội, những người
không đủ điều kiện để tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống.
Các TCTCVM là các tổ chức tài chính chuyên phục vụ người nghèo, với các dịch vụ
tài chính có quy mô nhỏ đến rất nhỏ.

Trang 22

CHƯƠNG 2
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG PHÁT TRIỂN TÀI
CHÍNH VI MÔ
Như phần trên đã đề cập, TCVM được định nghĩa là việc cung cấp các loại hình
dịch vụ tài chính như: tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo
hiểm cho người nghèo và các hộ gia đình có thu nhập thấp cũng như các doanh
nghiệp nhỏ. Với cách hiểu như vậy thì TCVM đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Tuy
nhiên, ban đầu, TCVM chỉ được cung cấp bởi những nhà cung cấp không chính
thức như Hụi, Họ, nhóm tiết kiệm và vay vốn, chủ cửa hàng,người cho vay lãi v.v.
Hình thức cung cấp dịch vụ TCVM bán chính thức và có sự tham gia của các tổ
chức tài chính chính thức bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 19 tại châu Âu tại các nước
Anh, Đức, Ai len và Ý. Sang cuối thế kỷ 20, từ khi Ngân hàng Grameen ở
Bangladesh là người đi tiên phong trong phong trào tín dụng vi mô và cho thấy rõ
tiềm năng trong việc xoá đói giảm nghèo bằng phương thức cung cấp tín dụng cho
các hộ gia đình nghèo, TCVM bắt đầu được thịnh hành trên toàn thế giới.
Trước đây, TCVM luôn gắn liền với các chương trình xóa đói giảm nghèo mang
tính hỗ trợ nhân đạo của chính phủ hay các tổ chức nhân đạo. Tuy nhiên, thực tiễn
hiện nay trên thế giới đã xuất hiện cách tiếp cận thương mại vào lĩnh vực TCVM.
Đã xuất hiện nhiều bằng chứng cho thấy ngành TCVM có thể phát triển tự vững, và
có thể sinh lời chứ không chỉ là các hoạt động viện trợ, nhân đạo.

2.1Các mô hình TCVM tiêu biểu
2.1.1 Mô hình ngân hàng Grameen
Mô hình này do ngân hàng Grameen tại Banglades phát triển, được thành lập chính
thức năm 1976, và đến năm 1983 thì chuyển đổi thành một ngân hàng chính thống
theo một đạo luật đặc biệt của Chính phủ dành cho ngân hàng này. Đây là một mô
hình đặc biệt bởi 94% vốn của nó là của chính những khách hàng. Họ chủ yếu là
phụ nữ. Phần còn lại, 6% cổ phần, thuộc sở hữu của nhà nước. Với mục đích chính

Trang 23

là nhằm phục vụ những người phụ nữ nông thôn, không có ruộng đất, mong muốn
tài trợ cho các hoạt động thu nhập. (Mark Schreiner, 2003)
Bắt đầu bằng thử nghiệm nhỏ (bỏ 27 dollar tiền túi cho 42 hộ gia đình nghèo vay)
thành công, Yunus đã thành lập ngân hàng Grameen. Hiện nay ngân hàng này có tới
2100 chi nhánh.
Phương pháp thực hiện:
-

Phân người vay thành hai nhóm rõ ràng: nhóm đầu tư rủi ro cao và nhóm đầu

tư an toàn.
-

Sẽ không cho vay theo cá nhân mà vay theo nhóm (cluster): Các nhóm thành

viên không có quan hệ huyết thống hay hôn nhân được tự thành lập và tập trung
thành các “trung tâm” gồm khoảng 8 nhóm. Các thành viên bắt buộc phải tham dự
các buổi sinh hoạt hàng tuần và đóng góp tiền tiết kiệm, đóng góp vào quỹ nhóm và
đóng tiền bảo hiểm. Đóng góp tiền tiết kiềm được thực hiện từ bốn đến năm tuần
trước khi nhận được món vay và phải tiếp tục trong thời gian vay vốn. Quỹ nhóm
được nhóm tự quản lý và có thể được sử dụng để cho vay đến các thành viên trong
nhóm. Các thành viên trong nhóm cùng bảo lãnh những món vay của nhau và chịu
trách nhiệm liên đới về pháp luật về việc hoàn trả nợ của các thành viên khác trong
cùng nhóm. Bất kỳ thành viên nào cũng không được vay thêm nếu các thành viên
khác trong nhóm không trả hết nợ. Các khoản vay đều được cho vay mà không đòi
hỏi tài sản thế chấp
Sản phẩm : Các món vay thường có kỳ hạn từ 6 tháng đến 1 năm và việc hoàn trả
được thực hiện hàng tuần. Số tiền vay thường dao động từ $100 đến $300 với lãi
suất khoảng 20% năm. Đi kèm với mỗi khoản vay là các khoản tiền gửi tiết kiệm
bắt buộc
Tác động và hiệu quả:
Người vay của Grameen hiện phục vụ hơn 58 triệu khách hàng với số lượng 5,4 tỷ
USD có tới 97% là phụ nữ, tỷ lệ trả nợ rất cao (98%). Lý do cũng không phải đơn

Trang 24

giản là phụ nữ ít trốn nợ hơn mà là do họ được gia đình cử đi vay và đứng sau họ
(lao động để trả nợ) chính là chồng và con họ. Tác động xấu của việc này là nhiều
trường hợp hộ sản xuất nhỏ đã phải cho con nghỉ học để ở nhà làm thêm.
Tín dụng vi mô còn có tác động tích cực đến việc kích thích năng khiếu kinh doanh
nhỏ của người vay, đặc biệt là phụ nữ. Để sử dụng vốn vay thành công, tự thân
người vay phải tìm tòi cách tính toán đồng tiền cho hiệu quả, nâng cao các kỹ năng
sản xuất hộ gia đình (chăn nuôi, làm hàng thủ công, gia công), các kỹ năng bán
hàng (tiếp thị, mở rộng quan hệ ra vùng xung quanh hoặc vùng xa)
Mô hình này được áp dụng: Grameen Bank và ủy ban vì sự tiến bộ ở nông thôn
Bangladesh, Tulay sa Pag – Unlad, Inc; Dự án Dungganon ở Philippines; ở Việt
Nam có các tổ chức áp dụng mô hình này là TYM, dự án Việt-Bỉ, CIDSE (cơ quan
hợp tác quốc tế vì sự phát triển và đoàn kết)

2.1.2 Mô hình ngân hàng làng
Mô hình này được Tổ chức trợ giúp cộng đồng quốc tế (FINCA) phát triển vào giữa
thập kỷ 80.
Phương pháp: khách hàng lập thành các nhóm tối thiểu từ 15 – 20 thành viên, đa số
là phụ nữ, vốn vay được chia đều cho các thành viên, và mỗi thành viên đều sở hữu
một “cổ phần” của ngân hàng. Tất cả các thành viên đều phải ký một thỏa ước vay
vốn nhằm đưa ra sự bảo đảm chung. Số tiền cho ngân hàng làng xã vay thường dựa
trên tổng tất cả các yêu cầu vay của các thành viên. Các món vay với ngân hàng
làng xã thường được cung ứng theo chu kỳ cố định, thường từ 10 đến 12 tháng, với
việc thanh toán toàn bộ số tiền vào cuối kỳ. Số tiền vay tiếp sau có liên hệ với số
tiền tổng cộng được tiết kiệm bởi các thành viên ngân hàng. Các ngân hàng làng có
mức độ kiểm soát dân chủ cao và độc lập. Các cuộc họp hàng tháng nhằm thu các
khoản tiền tiết kiệm, giải ngân các món vay, tham dự các vấn đề về quản lý vầ nếu
có thể, tiếp tục các khoá đào tạo với cán bộ TCTCVM.
Sản phẩm: Các món vay có lãi suất thương mại (1 – 3%/tháng) và lãi suất sẽ cao
hơn nếu nguồn cho vay xuất phát từ một khoản tài trợ nội bộ. Một vài ngân hàng đã