Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 4GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM

CHƯƠNG 4GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

Trang 77

Hình 4.1: Ba thành phần của thị trường tài chính vi mô Figure 3
Tín dung

TiÕt kiÖm

vi mô

Vi m«
Thị trường tài
chính vi mô

B¶o hiÓm
Vi m«

4.1.3 Chuyển từ hoạt động không chính thức sang hoạt động chính thức
Hiện nay đa số các TCTCVM vẫn còn hoạt động bán chính thức do đó các hoạt
động đều mang tính chất không chính thức vì không được chi phối bởi các qui định
hiệu lực của pháp luật. Để các TCTCVM hoạt động lành mạnh và phát triển bền
vững thì các TCTCVM phải chuyển thành các tổ chức chính thức, chịu sự kiểm soát
và chi phối bởi các qui định của pháp luật và sự giám sát của Ngân hàng nhà nước.
Một khi đã trở thành TCTCVM chính thức, bản thân các tổ chức sẽ dễ dàng mở
rộng các hoạt động huy động vốn, mở rộng các hình thức dịch vụ một cách chính
thức dưới sự điều chỉnh của luật các tổ chức tín dụng.

4.2Giải pháp phát triển TCVM ở Việt Nam
4.2.1 Có kế hoạch phát triển chiến lược quốc gia về TCVM
Để ngành TCVM phát triển bền vững và hiệu quả cần phải có một môi trường chính
sách phù hợp để điều chỉnh các hoạt động của nó. Hệ thống chính sách này giúp cân
bằng lợi ích giữa các bên; phát triển hoạt động trên nguyên tắc thị trường, đáp ứng
yêu cầu hội nhập và các điều kiện môi trường vĩ mô đồng bộ cũng sẽ tạo điều kiện,

Trang 78

tạo sân chơi công bằng cho các TCTCVM phát triển.

Từ đó tạo ra môi trường

thuận lợi để TCVM phát triển đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Kinh nghiệm từ nhiều nước còn cho thấy, vai trò của Chính phủ là tạo môi trường
thuận lợi cho tài chính vi mô phát triển chứ không phải là trực tiếp tham gia vào
công tác quản lý của các tổ chức này. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam chưa có chính
sách hay chiến lược toàn diện nào đề ra tầm nhìn và định hướng phát triển cho
ngành TCVM trong thời gian tới. Để đảm bảo có sự tiếp cận thống nhất trong việc
đối phó với những thách thức mà ngành TCVM phải đối mặt, khuyến khích một thị
trường cạnh tranh bình đẳng và minh bạch cho TCVM, cần xây dựng một chính
sách hoặc chiến lược toàn diện cho sự phát triển của ngành TCVM, có sự đồng
thuận của các bên liên quan, đồng thời xác định được các nhiệm vụ cụ thể và các
mốc quan trọng cần đạt được.

4.2.2 Tăng cường hệ thống giám sát kiểm tra cho hoạt động tài chính vi

Thực tế hoạt động của các tổ chức TCVM hiện nay còn mang yếu tố tự phát, thiếu
tính chuyên nghiệp. Các chương trình, dự án có hoạt động TCVM đã và đang phấn
đấu tự vững về tài chính và có sự quan tâm đến các tỷ lệ an toàn trong quá trình
hoạt động, tuy nhiên, việc thực hiện các tỷ lệ an toàn của hầu hết các chương trình,
dự án còn hạn chế do thiếu chuyên nghiệp và chưa được quản lý bởi một cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Do đó song song với việc có chiến lược khuyến khích phát triển TCVM quốc gia
chính phủ cần xây dựng một hệ thống giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của các
TCTCVM nhằm mục đích bảo đảm các TCTCVM hoạt động hiệu quả, đúng mục
đích. Sự giám sát này được thực hiện bởi Ngân hàng Nhà nước thông qua chức
năng thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động TCVM của các chương trình, dự án
tương tự như đối với các tổ chức tài chính đã được Ngân hàng Nhà nước cấp phép
thành lập và hoạt động

Trang 79

4.2.3 Thay đổi cơ chế ưu đãi về lãi suất trong hoạt động tín dụng đối với
các hộ có thu nhập thấp
Hiện nay cơ chế ưu đãi về lãi suất đối với hộ có thu nhập thấp đang được ngân hàng
CSXH thực hiện đang mang lại sự hỗ trợ nhất định đói với người nghèo, tuy nhiên
nguồn vốn lãi suất thấp này đang được sử dụng không hiệu quả do việc xác định đối
tượng vay vốn chưa đúng, theo thống kê của NHCSXH thì số hộ được vay vốn với
lãi suất ưu đãi 0.65%/tháng vượt xa số hộ nghèo hiện có tại các địa phương, điều
này chứng tỏ nguồn vốn ưu đãi đã được cấp phát cả cho các hộ không nghèo làm
mất đi cơ hội tiếp cận nguồn vốn cho các hộ nghèo thực sự
Mặt khác, cơ chế ưu đãi lãi suất làm phá vỡ quy luật thị trường về giá trị hàng hóa,
làm nảy sinh tham những, tiêu cực làm tổn hại cho cả người đi vay lẫn tổ chức tín
dụng cho vay. Đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh của các TCTCVM. Do đó
cơ chế ưu đãi lãi suất không nên duy trì qua lâu.

4.2.4 Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của tổ chức TCVM Việt Nam
Để tăng cường khả năng tiếp cận TCVM cho người nghèo, các TCTCVM cần chủ
động đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ TCVM nhằm đáp ứng nhiều loại nhu cầu
TCVM của người nghèo. Việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của TCVM có thể
được thực hiện thông qua các hình thức:
- Mở rộng thêm nhiều hình thức dịch vụ tín dụng: các tổ chức TCVM cần nghiên
cứu cung cấp nhiều loại hình tín dụng với các mức khác nhau, thời hạn và phương
thức và lãi suất khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng ngày càng tăng của khách
hàng. Hiện nay, ngoài Quỹ CEP, TYM và một số tổ chức phát triển khác có từ ba
tới bốn loại hình tín dụng, hầu hết mới chỉ cung cấp một loại vốn ngắn hạn.
Tuy nhiên việc đa dạng hóa các sản phẩm cho vay còn tùy thuộc năng lực tài chính,
năng lực quản lí của tổ chức và năng lực sử dụng vốn tín dụng của khách hàng.
Không nên giới thiệu quá nhiều loại hình tín dụng trong lúc khả năng giám sát của
tổ chức còn hạn chế và năng lực sử dụng vốn của khách hàng còn có giới hạn sẽ dẫn
tới nguy cơ chậm trả hoặc thất thoát vốn. Phương thức giao dịch với cá nhân

Trang 80

truyền thống có thể cần được bổ sung bằng phương thức giao dịch theo nhóm. Theo
kinh nghiệm quốc tế cũng như thực tế tại các định chế tài chính hiện nay như
NHNo, NHCSXH hay các TCTCVM, hình thức cung ứng dịch vụ tài chính qua các
nhóm tương hỗ đã chứng minh là rất phù hợp cho tài chính vi mô ở nông thôn vì nó
liên kết được sức mạnh cộng đồng và giảm chi phí giao dịch cho tổ chức tài chính.
Vì vậy, các định chế tài chính nên tăng cường phát huy điểm mạnh này, thực hiện
đẩy mạnh uỷ thác cho vay thông qua các tổ chức chính trị-xã hội, thực hiện dân chủ
công khai hoạt động tín dụng.
- Nghiên cứu phát triển các dịch vụ tiết kiệm: ngoài các sản phẩm tiết kiệm bắt
buộc, tổ chức TCVM cũng phải thiết kế nhiều hình thức huy động tiết kiệm khác
nhằm khuyến khích người nghèo tích lũy cũng như tạo nguồn huy động vốn cho
bản thân tổ chức. Tiết kiệm bắt buộc thường chỉ nên giới thiệu trong giai đoạn đầu
khi tổ chức mới thành lập. Khi khách hàng đã có ý thức và tạo dựng được thói quen
tiết kiệm thì các tổ chức TCVM nên khuyến khích loại hình tiết kiệm tự nguyện với
nhiều thời hạn và mức lãi khác nhau phù hợp với cung cầu. Sản phẩm này mới thực
sự thuận lợi cho khách hàng, tuy nhiên về phía tổ chức cần tăng cường năng lực
quản lí để có thể sử dụng với hiệu quả cao nhất.
-Tích cực phát triển các hoạt động bảo hiểm vi mô: Bảo hiểm vi mô là loại hình bảo
hiểm xã hội dành cho các đối tượng có thu nhập thấp. Nếu kênh phân phối được
thực hiện thông qua tổ chức TCVM thì đối tượng thụ hưởng không phải chỉ là
người tham gia bảo hiểm mà còn ở chính nhà cung cấp dịch vụ. Do những qui định
của pháp luật hiện hành, tổ chức TCVM không thể trực tiếp thực hiện sản phẩm mà
chỉ làm đại lí cho các tổ chức bảo hiểm chính thức, trong khi đó, các tổ chức này
không mấy mặn mà với khu vực người thu nhập thấp. Đây là một thiệt thòi với các
đối tượng có thu nhập thấp mà cũng thiếu an toàn cho tổ chức TCVM khi có thành
viên tử vong mà chưa trả hết nợ. Tuy nhiên, hiện nay có hai tổ chức TYM và M7
đang làm thí điểm loại sản phẩm này, các tổ chức có thể tham khảo để tham gia
cùng họ hoặc học hỏi kĩ thuật để khi có cơ hội sẽ mở thêm một hệ thống hoạt động
mới.

Trang 81

-Gia tăng các hoạt động phi tài chính: Cũng giống như mọi khách hàng khác, khách
hàng của các tổ chức TCVM cũng rất mong mỏi được cung cấp các kiến thức, kĩ
năng để có thể phát triển nghề nghiệp hoặc mở thêm nghề mới, họ cũng cần nhận
biết thị trường, nhu cầu và phương thức tiêu thụ sản phẩm sao cho thu được lợi
nhuận cao nhất. Họ cũng mong muốn được cung cấp các dịch vụ về y tế, sức khỏe,
văn hóa giáo dục để phát triển đời sống tinh thần. Tổ chức TCVM cũng nên có
chiến lược liên kết với các tổ chức chuyên ngành để phối hợp cung cấp những sản
phẩm này cho khách hàng của mình. Đó là các sản phẩm hỗ trợ tài chính vi mô như:
khuyến nông, khuyến lâm, giáo dục truyền thông, nâng cao năng lực, phát triển
cộng đồng…. Một khi khách hàng trưởng thành, năng lực được cải thiện thì hoạt
động tài chính vi mô sẽ có hiệu quả hơn đối với cả khách hàng và TCTCVM

4.2.5 Tích cực đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động
của TCVM:
Hiện nay, nguồn nhân lực của các TCTCVM vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất
lượng. Nhân sự chủ yếu hoạt động bán chuyên trách và kiêm nhiệm, đặc biệt là các
cán bộ ở vùng sâu, vùng xa, nơi tập trung nhiều người nghèo – là đối tượng chính
của TCVM
Các tổ chức TCVM nên chú đến chính sách phát triển nguồn nhân lực thông qua
việc hoàn thiện về tuyển dụng, đào tạo, sử dụng nhân lực, lựa chọn và phân hạng
nhân lực, chức danh tiền lương và chế độ khen thưởng, khuyến khích các nguyên
tắc giao tiếp nội bộ…với mục tiêu nâng cao tầm và kỹ năng của cán bộ lãnh đạo,
xây dựng đội ngũ nhân viên vừa có chuyên môn sâu vừa có phẩm chất đạo đức
nghề nghiệp tốt. Cán bộ làm việc trong tổ chức TCVM phải hiểu rõ cả về phát triển
và tài chính
Các tổ chức TCVM cũng cần tạo lập một hệ thống cơ chế chính sách động lực để
khuyến khích sự vươn lên trong lao động sáng tạo của tập thể người lao động. Bố trí
cán bộ nhân viên vào những vị trí phù hợp với khả năng, trình độ, tính cách để phát
huy tối đa năng lực, sức sáng tạo. Cải thiện môi trường làm việc khiến cho nhân

Trang 82

viên thực sự năng động, sáng tạo và làm chủ nghiệp vụ, tránh tình trạng trông chờ, ỷ
lại vào cấp trên. Hoạt động TCVM bên cạnh nhân viên có trình độ cao phải có nhân
viên có kinh nghiệm lâu năm trung thành với tổ chức mới tạo ra tính an toàn, chắc
chắn trong công việc. Cải tạo môi trường làm việc làm cho nhân viên gắn kết với
nhau hơn, thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau. Thường xuyên tổ
chức đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên.

4.2.6 Quan tâm hơn đến các hoạt động Marketing của các tổ chức TCVM
Các TCTCVM cần tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường, quảng bá các sản
phẩm, dịch vụ thế mạnh để tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ của người nghèo.
Các tổ chức TCVM cần tập trung vào phân đoạn thị trường của mình – chủ yếu là
khách hàng cá nhân có thu nhập thấp tại nông thôn, những người khó có khả năng
tiếp cận hoặc khả năng tiếp cận không đầy đủ với các dịch vụ tài chính chính thức.
Các tổ chức TCVM phải biết được nhu cầu và đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.
Muốn vậy, cần phải nghiên cứu kỹ khách hàng. Mục đích của công tác này là nhằm
xác định rõ nhu cầu của khách hàng hiện tại là gì? tương lai ra sao và họ có mong
đợi gì, từ đó sẽ đề ra chính sách khách hàng phù hợp và đưa ra các sản phẩm phù
hợp cho đối tượng khách hàng của mình.
Ngoài ra, các TCTCVM cũng phải thực hiện các chương trình quảng bá về các sản
phẩm dịch vụ TCVM nhằm tăng khả năng tiếp cận của người nghèo đối với các sản
phẩm dịch vụ TCVM và tăng khả năng nhận thức về TCVM trong toàn xã hội

4.2.7 Đẩy mạnh liên kết giữa các tổ chức có hoạt động TCVM
Do các TCTCVM Việt Nam hiện nay còn hoạt động manh mún, nhỏ lẻ nên việc
liên kết, trao đổi thông tin qua lại với nhau là một vấn đề quan trọng. Việc kiên kết
giữa các TCTCVM với nhau và với các ngân hàng thương mại có thể thực hiện
dưới nhiều hình thức từ trao đổi thông tin cho đến liên kết các hoạt động hoặc có
quan hệ sở hữu với nhau.

Trang 83

Sự liên kết giữa các TCTCVM và giữa các TCTCVM với các ngân hàng thương
mại đem lại rất nhiều lợi ích như:
- Kết hợp với ngân hàng thương mại, TCVM có thể tận dụng tính kinh tế của quy
mô và mạng lưới giao dịch rộng lớn của ngân hàng, tận dụng hệ thống hỗ trợ hiện
đại và chuyên nghiệp cũng như các nguồn tài lực, nhân lực khác của ngân hàng với
chi phí thấp.
- Các tổ chức TCVM có tốc độ phát triển nhanh sẽ gặp phải giới hạn do quy định
về tỷ lệ an toàn vốn, do đó khi liên kết với một ngân hàng là cách tốt nhất để vừa
đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng mà không phải chịu áp lực phải tăng
nhanh vốn chủ sở hữu. Từ đó tổ chức TCVM có thể giảm áp lực bởi quy định về tỷ
lệ an toàn
- Hợp tác để đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, mở rộng mạng lưới giao dịch và để
giảm chi phí giao dịch.
- Kết hợp với các TCTCVM ngân hàng có thể tiếp cận với một phân đoạn thị trường
mới mà không phải thiết lập kênh riêng với phương pháp mới, văn hoá kinh doanh
mới.

4.2.8 Tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tham gia sâu hơn vào hoạt
động TCVM
Từ năm 1998, trên thế giới đã có xu hướng các NHTM bắt đầu thâm nhập vào thị
trường TCVM. Đến năm 2005, các tổ chức tín dụng trên thế giới đã đóng vai trò
ngày càng quan trọng hơn đối với TCVM, mà điển hình là bài học từ Indonesia. So
sánh với các tổ chức TCVM hiện tại thì các tổ chức tín dụng chính thức có lợi thế
cạnh tranh rõ rệt trong một số mặt. Các tổ chức tín dụng chính thức có thương hiệu
đã hình thành và đã được nhận biết, có sẵn hệ thống cơ sở vật chất và kỹ thuật, có
khả năng huy động vốn từ nhiều khu vực khác nhau của nền kinh tế.

Trang 84

4.3 Các kiến nghị
Trên cơ sở những giải pháp đã được nêu, để có thể phát triển TCVM ở Việt nam
trong giai đoạn hiện nay, cần phải tiến hành đồng bộ tất cả những giải pháp đó một
cách có hệ thống. Tuy nhiên, việc thực hiện các giải pháp này lại phụ thuộc khá
nhiều vào phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, để có thể thực hiện được
các giải pháp đó, tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị bước đầu với các cơ quan
nhà nước có liên quan như sau:

4.3.1 Kiến nghị với Chính phủ
Sự phát triển của TCVM Việt nam cũng nằm trong sự tác động của các chính sách
do chính phủ ban hành. Chính vì vậy, nhằm mục đích phát triển TCVM ở Việt nam
trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi mạnh dạn kiến nghị với Chính phủ những vấn
đề sau đây:
- Nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển TCVM trong vòng 10-20 năm tới,
nhằm định hướng cho các TCTCVM phát triển chuyên nghiệp, bền vững, từng bước
hội nhập TCVM vào hệ thống tài chính quốc gia
- Tiếp tục hoàn thiện khung pháp luật cho ngành TCVM Việt nam nói chung và vấn
đề đặc biệt cấp bách hiện nay đó là sửa đổi các quy định liên quan đến việc tạo lập
cũng như vấn đề quản trị, điều hành các tổ chức TCVM hiện hành theo hướng hợp
lý hơn, tạo những điều kiện thuận lợi hơn.
- Thành lập Hiệp hội TCVM để tăng cường quản lý, giám sát và trao đổi thông tin
giữa các TCTCVM.
- Tăng cường hoạt động giám sát đối với ngân hàng CSXH, bảo đảm đồng vốn ưu
đãi lãi suất đến đúng đối tượng, giảm thiểu tiêu cực trong việc phân bổ nguồn vốn
này.
- Đa dạng hóa các loại hình tổ chức tài chính tại nông thôn: Trong thời gian qua hầu
hết các NHTMCP Nông thôn đã chuyển đổi thành NHTMCP Đô thị. Thị trường tài
chính khu vực nông nghiệp, nông thôn dường như ít dần đi các nhà cung ứng dịch

Trang 85

vụ. Bởi vậy ngoài việc tiếp tục cơ cấu lại các định chế tài chính hiện có thì cần có
chính sách hợp lý, minh bạch để khuyến khích việc thành lập các định chế tài chính
hoạt động chủ yếu và lâu dài trên thị trường tài chính nông thôn.
- Khuyến khích phát triển thị trường bảo hiểm các sản phẩm nông nghiệp: Trong đó,
Nhà nước tham gia theo hai hướng chủ yếu: Một là, tạo cơ chế chính sách để các
doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tham gia lĩnh vực bảo hiểm các sản phẩm nông
nghiệp. Hai là, Chính phủ trực tiếp tham gia vốn vào một số cơ quan bảo hiểm các
sản phẩm nông nghiệp của Nhà nước.
- Hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn một cách hợp lý : Gia nhập WTO, Việt Nam phải
cam kết xóa bỏ các chính sách ưu đãi doanh nghiệp, hỗ trợ xuất khẩu. Đối với nông
nghiệp, WTO cho phép vẫn tiếp tục hỗ trợ nông nghiệp bằng việc đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng, hỗ trợ nghiên cứu chuyển giao công nghệ, khuyến nông, xóa đói
giảm nghèo, đào tạo phát triển nhân lực, trợ giúp phát triển làng nghề... Bởi vậy, đối
với nền nông nghiệp còn yếu kém như nước ta, Chính phủ cần tiếp tục có những hỗ
trợ trong khuôn khổ những hoạt động được phép này để giúp cho nền nông nghiệp
phát triển theo hướng ổn định và bền vững. Đặc biệt có chính sách hỗ trợ phát triển
HTX nông nghiệp và HTX dịch vụ nông nghiệp. Hỗ trợ thêm về cơ sở vật chất cho
HTX như trụ sở, trang thiết bị làm việc, quỹ đất sản xuất; Hỗ trợ đào tạo nguồn
nhân lực cho HTX.

4.3.2 Kiến nghị với NHNN Việt Nam
NHNN là cơ quan trực tiếp điều hành hệ thống tài chính quốc gia, bao gồm cả các
TCTCVM. Do đó, những tác động nhỏ của NHNN cũng sẽ có những ảnh hưởng rất
lớn đến sự tồn vong của TCVM. Chính vì lý do này, để phát triển TCVM ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn kiến
nghị với NHNN Việt nam như sau:
- Tăng cường vai trò tư vấn cho Quốc hội và Chính phủ trong việc xây dựng và
hoàn thiện khung pháp luật cho việc thành lập và hoạt động các tổ chức TCQMN,
bao gồm cả việc xây dựng cơ chế cho các tổ chức TCQMN được cho vay theo lãi

Trang 86

suất thị trường để đảm bảo sự bền vững và phát triển của lĩnh vực này; Xây dựng và
ban hành các văn bản hướng dẫn cần thiết và hợp lý cho hoạt động tạo dựng các tổ
chức TCVM mới; hướng dẫn việc xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của các
tổ chức TCVM đồng thời, xác định rõ những dịch vụ tài chính mà tổ chức TCVM
có thể cung cấp, qua đó tạo lập một hành lang pháp lý chuẩn mực cho lĩnh vực này
tồn tại và phát triển.
- Đẩy nhanh tiến độ thẩm định và cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các đề
nghị thành lập các tổ chức TCVM khi thấy họ đã có đủ các điều kiện theo quy định
của pháp luật để các tổ chức này có thể đi vào hoạt động trong thời gian sớm nhất.
Đối với các bộ hồ sơ chưa đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết, cần tạo điều kiện,
hướng dẫn giúp đỡ các tổ chức TCVM hoàn thiện các điều kiện còn thiếu để có thể
nhận được giấy phép từ NHNN Việt nam.
- Tích cực đào tạo các kiến thức về TCVM, kỹ năng phân tích tài chính, thanh tra,
giám sát đối với hoạt động TCVM. Nhằm làm cho các cán bộ của NHNN Việt nam,
đặc biệt là những người đang trực tiếp thực hiện các công việc quản lý về TCVM có
được những hiểu biết cần thiết về lĩnh vực mình quản lý để phục vụ công việc của
mình tốt hơn hiệu quả hơn. Điều này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành
TCVM Việt nam.
- Đứng ra thành lập Hiệp hội TCVM để kết nối giữa các tổ chức TCVM đã được
cấp phép và các tổ chức TCVM không thuộc diện cấp phép và giám sát an toàn của
NHNN, từ đó nắm bắt các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý và thúc
đẩy việc áp dụng các thông lệ thực hành tốt nhất trong toàn ngành.
- Tuyên truyền, huấn luyện kiến thức về TCVM cho các đối tượng trong ngành
cũng như toàn xã hội để mọi người có được những hiểu biết đúng đắn về lĩnh vực
này, nhận thức được tầm quan trọng của TCVM đối với việc thực hiện chính sách
xã hội của Nhà nước cũng như đối với việc phát triển kinh tế. Việc phổ cập kiến
thức có thể được thực hiện thông qua triển khai các khóa đào tạo ngắn và dài hạn.

Trang 87

4.3.3 Kiến nghị với các TCTCVM:
4.3.3.1 Chú trọng hơn vào hoạt động nghiên cứu và phát triển
Các loại hình dịch vụ tài chính mà TCTCVM cung cấp hiện nay còn khá đơn điệu,
chủ yếu tập trung ở các sản phẩm tín dụng ngắn hạn phục vụ sản xuất và các sản
phẩm tiết kiện bắt buộc, để phát triển tổ chức bền vững thì các tổ chức này cần
nghiên cứu phát triển thêm các loại sản phẩm phù hợp hơn với nhiều đối tượng và
nhiều nhu cầu đa dạng hơn. Các TCTCVM cần phát triển hệ thống dịch vụ tài chính
đa dạng hơn, đa tiện ích, được định hướng theo nhu cầu của nền kinh tế. Tiếp tục
nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ tài chính truyền thống, đồng thời tiếp
cận nhanh các dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại, đặc biết là tranh thủ sự hỗ trợ
của công nghệ thông tin. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các dịch vụ tài chính
theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, hạn chế bao cấp và chống độc quyền cung
cấp dịch vụ tài chính.


Phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính đa dạng phù hợp với hoàn cảnh và

nhu cầu của khách hàng là người dân nghèo Việt nam


Tích cực hơn trong các hoạt động huy động vốn, để có thể mở rộng thêm

hoạt động phục vụ người nghèo


Quản lý tốt hơn các chi phí giao dịch để không ảnh hưởng đến chất lượng

chung của các dịch vụ và trách nhiệm của khách hàng;


Tằn cường hoạt động giám sát, kiểm tra đảm bảo trả vốn đúng kỳ và tăng

danh mục đầu tư vay;


Tăng cường các hoạt động phi tài chính hỗ trợ phát triển cộng đồng do

những người có kỹ năng thực hiện và đồng thời có thể đào tạo lại cho các cán bộ
cộng đồng, đây là hoạt động có ảnh hưởng tích cực lâu dài đối với những giải pháp
phát triển tiềm năng có sự tham gia của người dân.