Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM

CHƯƠNG 3THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

Trang 49

Việt Nam cũng lần lượt đóng cửa. Một số tổ chức đã cố gắng duy trì hoạt động
để tồn tại bằng cách chuyển đổi sang hoạt động chuyên nghiệp hơn, tạo bước tiến
lớn trong hoạt động TCVM. TCVM Việt Nam bắt đầu phát triển theo chiều sâu,
chú trọng vào chất lượng dịch vụ và hiệu quả để đảm bảo sự tồn tại của tổ chức.
Hiện nay hoạt động TCVM tại Việt Nam đã được chuyên nghiệp hóa, hầu hết
các tổ chức TCVM đều hoạt động chuyên trách, có tôn chỉ, mục đích và điều lệ
rõ ràng, Theo thống kê của Mix thì hiện nay ở Việt Nam có 19 tổ chức TCVM
có thực hiện trao đổi thông tin với Mix, tổng số vốn cho vay năm 2010 là 4,7 tỷ
USD; số người được vay là 8,5 triệu người; số tiền gửi tiết kiện là: 1,6 tỷ USD;
số người gửi tiết kiệm là: 335.594 người

3.2Môi trường hoạt động của TCVM ở Việt Nam
3.2.1 Môi trường kinh tế:
Từ những năm 80, với chủ trương mở cửa nền kinh tế, kinh tế Việt Nam đã có
những bước chuyển mình phát triển, tỷ lệ tăng trưởng GDP luôn ở mức cao và,
cùng với đó, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO càng thúc đẩy nền kinh tế phát triển
hơn, hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới.
Từ năm 2000 đến nay, nền kinh tế liên tục phát triển với tỷ lệ GDP tăng khá cao
hàng năm, cộng với tỷ lệ lạm phát được duy trì dưới một con số trong suốt giai đoạn
2000-2006 đã tạo động lực cho TCVM phát triển. Thu nhập bình quân đầu người
tăng liên tục, đến năm 2008 thu nhập bình quân đầu người Việt Nam đã vượt qua
ngưỡng nghèo của thế giới là 1000usd/người/năm.

Trang 50

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2006-2010

Bang 1

Năm

Tốc độ
tăng
trưởng
GDP (%)

Tỷ lệ lạm
phát (%)

Thu nhập
bình quân
đầu người
(USD)

2006
2007
2008
2009
2010

8,23
8,46
6,31
5,32
6,78

6.6
12.6
19.9
6.5
11.8

730
843
1052
1064
1169

Nguồn Tổng cục thống kê
Nền tảng kinh tế ổn định, đã tạo những điều kiện thuận lợi cho các tổ chức TCVM
phát triển, đồng thời quá trình mở cửa, tự do nền kinh tế cũng giúp cho việc tiếp thu
các kinh nghiệm phát triển TCVM trong việc xóa đói giảm nghèo trên thế giới
thuận lợi hơn.

3.2.2 Môi trường xã hội – chính trị:
Việt Nam là quốc gia có chế độ chính trị thuộc loại ổn định nhất trên thế giới, đồng
thời chính phủ luôn quan tâm đến việc xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao đời sống
nhân dân. Đây là một mặt thuận lợi cho việc phát triển các TCTCVM.
Bảng 3.2: Tỷ lệ hộ nghèo tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010

Bang 2
Tỷ lệ hộ nghèo
Cả nước
Thành Thị
Nông thôn

2006
15.5
7.7
18

2008
13.4
6.7
16.1

Đơn vị tính: %
2010
10.7
5.1
13.2

2010*
14.2
6.9
17.4

*: tính theo chuẩn nghèo mới ban hành năm 2011
Nguồn:Tổng cục thống kê

Có thể thấy tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm là kết quả tích cực của công cuộc
xóa đói giảm nghèo, trong đó có phần đóng góp của các tổ chức TCVM, tuy nhiên
vẫn có nhiều ý kiến cho rằng ở Việt Nam vẫn còn các nguy cơ tái nghèo cao. Nhận
thức được điều này, chính phủ quan tâm nhiều hơn đến phát triển nông thôn và coi

Trang 51

đó là công cụ hiệu quả để tấn công đói nghèo và cải thiện điều kiện sống. Nhu cầu
về vốn và các dịch vụ tài chính cho phát triển nông nghiệp và nông thôn nói chung
và kinh tế hộ gia đình nói riêng là rất lớn. Việt Nam là một quốc gia đông dân, với
tỷ lệ người nghèo cao, là một thị trường tiềm năng cho ngành TCVM phát triển.
Tập quán tiết kiệm cũng là một thói quen tốt của người Việt nam tạo điều kiện cho
việc phát triển sản phẩm của TCVM là tiết kiệm bắt buộc.

3.2.3 Môi trường pháp lý
Hoạt động TCVM, cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội khác, chịu ảnh hưởng và
sự chi phối của các quy định pháp luật. Môi trường pháp lý phù hợp sẽ tạo động lực
cho các TCTCVM phát triển rộng hơn, sâu hơn và phục vụ người nghèo tốt hơn.
Khi đề cập đến môi trường pháp lý cho hoạt động TCVM, chúng tôi đề cập đến hai
vấn đề: khung pháp luật điều chỉnh đối với vấn đề tổ chức và hoạt động TCVM
khung pháp luật cho mức lãi suất của các tổ chức TCVM

3.2.3.1 Khung pháp luật điều chỉnh đối với vấn đề tổ chức và hoạt động
TCVM:
Trước đây, khung pháp lý đối với hoạt động TCVM nói chung và các tổ chức
TCVM nói riêng đều chưa hoàn chỉnh. Vì từ trước đến nay việc xóa đói giảm
nghèo thường được nhà nước trực tiếp thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước
như: Ngân hàng NN&PTNT, Ngân hàng chính sách xã hội, hay các quỹ tín dụng
nhân dân...
Đến năm 2005, mới chính thức có những quy định pháp lý cơ bản quy định về tổ
chức và hoạt động của các tổ chức TCVM dưới tên gọi là các “tổ chức tài chính quy
mô nhỏ”. Văn bản quy định về vấn đề này là: Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày
09/03/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức TCQMN tại Việt Nam. Sự ra đời
nghị định này đánh dấu bước tiến quan trọng cho ngành TCVM Việt Nam, khẳng
định sự thừa nhận của nhà nước về vai trò cũng như vị trí của hoạt động TCVM
trong hệ thống tài chính quốc gia

Trang 52

Tiếp đó Nghị định số 28/2005/NĐ-CP được bổ sung năm 2007 bằng nghị định số
165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007.
Tiếp sau các Nghị định nêu trên, ngày 2/4/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành
Thông tư số 02/2008/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị
định, tập trung chủ yếu vào các quy định về điều kiện, quy trình, thủ tục cấp giấy
phép và cơ cấu sở hữu, quản trị, kiểm soát, điều hành tổ chức tài chính quy mô nhỏ.
Sự ra đời của thông tư 02/2008/TT-NHNN đã mở ra hướng phát triển cho TCVM
Việt Nam, hướng đến một cơ cấu tổ chức vững chắc cho các tổ chức TCVM. Từ
đây, các tổ chức TCVM sẽ tiến lên hoạt động một cách chính thức và có sự điều
chỉnh của pháp luật.
Có thể nói khung pháp lý để quản lý hoạt động của các TCTCVM ra đời khá muộn
màng so với sự hình thành và phát triển của TCVM tại Việt Nam, tuy nhiên, điều
này cũng đã thể hiện định hướng cho các TCTCVM phát triển theo hướng tự chủ,
độc lập.
Hình 3.1: Tiến trình của Nghị định 28&165 và thông tư số 02/2008/TT-NHNN

Figure 1

Nguồn: BWTP, 2008
3.2.3.2 Khung pháp luật cho mức lãi suất của các tổ chức TCVM
Vấn đề lãi suất tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của các tổ chức
TCVM. Theo quy định tại Luật Dân sự, trần lãi suất cho vay áp dụng chung cho các
đối tượng và giao dịch là 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho

Trang 53

vay tương ứng. Hiện tại, lãi suất cho vay cơ bản của NHNN là 9%/năm, do vậy lãi
suất cho vay tối đa hiện là 13.5%/năm. Trong khi đó, với đặc thù ngành TCVM, các
khoản vay nhỏ, lẻ do đó chi phí giao dịch sẽ rất lớn, nên hiện nay thông thường để
hoạt động có hiệu quả kinh tế, lãi suất thực các TCTCVM cho vay thường là 17%/
năm. Đây là một vấn đề hóc búa đối với các tổ chức TCVM
Mặt khác chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ trong chương trình xoá đói,
giảm nghèo với mức lãi suất cho vay bằng khoảng một nửa lãi suất thị trường làm
ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường TCVM nói chung bởi các lý do:
(i) Ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và giảm thiểu khả năng tăng trưởng của
các tổ chức TCVM khác;
(ii) Không khuyến khích các ngân hàng khác và tổ chức cung cấp dịch vụ
TCVM mới tham gia thị trường; và
(iii) Tạo tâm lý phụ thuộc vào trợ cấp của các hộ gia đình nghèo
Chính sách bao cấp lãi suất là rào cản cho sự phát triển của các tổ chức TCVM, mặt
khác nó cũng là nguyên nhân gây làm cho hiệu quả của TCVM giảm xuống. Nhiều
hộ không có nhu cầu vay vốn cũng cố gắng vay vốn vì được vay giá rẻ, làm mất đi
cơ hội vay vốn của những hộ thật sự có nhu cầu sử dụng vốn, bên cạnh đó nó cũng
là nguyên nhân gây ra hiện tượng tiêu cực, cho vay không đúng đối tượng.

3.3Các tổ chức TCVM tiêu biểu tại Việt Nam hiện nay:
3.3.1 Các tổ chức chính thức:
3.3.1.1 Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam:
NHCSXH được thành lập năm 2003, tiếp nhận chương trình cho vay món nhỏ cho
đối tượng chính sách và các chương trình cho vay trực tiếp của giai đoạn trước được
quản lý bởi các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước (NHTMNN) và các
tổ chức khác, trong đó có Ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây. Chiến lược
phát triển tổ chức của NHCSXH lấy mô hình phát triển của Ngân hàng Rakyat
Indonessia làm bài học kinh nghiệm. Tính đến nay, Ngân hàng đã thiết lập 64 chi

Trang 54

nhánh cấp tỉnh,thành phố và 608 Phòng giao dịch cấp huyện, hơn 10439 điểm giao
dịch tại xã, phường. Mục tiêu chủ yếu của NHCS là cung cấp tín dụng ưu đãi cho
các hộ nghèo và những đối tượng xã hội và chính sách theo quy định. Hiện nay,
NHCSXH đang thực hiện 2 phương thức cho vay:
(1) Phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội.
(2) Phương thức cho vay trực tiếp đến khách hàng.
Tính đến 31 tháng 12 năm 2009, tổng dư nợ các chương trình tín dụng đạt 72.660 tỷ
đồng, tăng 20.149 tỷ đồng (38,4%) so với năm 2008, với 7,5 triệu khách hàng đang
có dư nợ, trong đó dư nợ hộ nghèo cao nhất đạt 32.542 tỷ đồng với hơn 3,7 triệu hộ
khách hàng vay vốn. Cũng trong năm 2009 đã có hơn 1,5 triệu hộ gia đình vay vốn
cho con em học tập, nâng tổng dư nợ cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó
khăn lên 18.230 tỷ đồng. (NHCSXH, 2010)
Giá trị huy động tiết kiệm của NHCSXH rất thấp, chủ yếu xuất phát từ chính sách
sản phẩm và lãi suất kém đa dạng. Người dân chỉ biết đến NHCSXH như một tổ
chức tài chính đặc biệt thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao là cho vay các đối
tượng nghèo và chính sách xã hội, chứ không phải là ngân hàng với đầy đủ các hoạt
động cơ bản của một ngân hàng nói chung. Thêm vào đó, lãi suất huy động tiền gửi
chưa thực sự hấp dẫn so với các NHTM khác nên kết quả tất yếu là việc huy động
từ nguồn này còn yếu và thiếu. Nguồn huy động tiền gửi đã giảm mạnh: năm 2007
giảm 48,75%, năm 2008 giảm 62,83% và đặc biệt 2009 giảm 91,25% (Nguyễn Kim
Anh, 2010)
Tuy nhiên, do NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bản thân cán bộ
ngân hàng cũng không có động cơ phát triển hoạt động này, và các chính sách lãi
suất cũng như marketing của ngân hàng đối với các hoạt động này cũng không hấp
dẫn. Do đó, vẫn có rất nhiều hộ nghèo chưa tiếp cận được với NHCSXH. Điều này
được lý giải một phần do chi phí giao dịch cao đối với khách hàng, gây khó khăn
trong việc tiếp cận với đối tượng là khách hàng nằm dưới ngưỡng nghèo.

Trang 55

3.3.1.2 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
NHNo được thiết lập năm 1988. Trước đó ngân hàng này chỉ là một bộ phận của
Ngân hàng Nhà Nước. Từ năm 2003, ngân hàng đã chuyển giao việc cho vay hộ
nghèo cho NHCS, mặc dù họ vẫn đang thực hiện tín dụng do các tổ chức quốc tế tài
trợ thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cùng với các chương
trình tín dụng khác do chính phủ chỉ đạo. Vốn vay của NHNo chủ yếu cung cấp cho
những người nông dân ở khu vực nông thôn. Mức vốn cho vay dưới 10 triệu đồng
không đòi hỏi thế chấp nếu như được các đoàn thể như Hội Phụ nữ , Hội Nông
dân... bảo lãnh, mức vốn trên 10 triệu đồng cần phải có thế chấp. Ngân hàng ít có
đại diện xuống đến mức làng nhưng thường có văn phòng ở cấp quận. Đến cuối
năm 2010, Agribank có tổng tài sản trên 524.000 tỷ đồng; tổng nguồn vốn đạt
475.000 tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 414.952 tỷ đồng tăng trên
60.000 tỷ; có gần 40.000 cán bộ, viên chức tại hơn 2.300 chi nhánh và phòng giao
dịch trong toàn hệ thống. (http://www.agribank.com.vn/, 2011)
Trong số các TCTCVM, chỉ NHNo có hoạt động thanh toán nội địa phát triển nhất.
Hiện nay NHNo là TCTCVM lớn nhất liên kết với mạng chuyển tiền quốc tế
Western Union, thực hiện chuyển tiền trong nước, phát hành và quản lý thẻ ATM.
Tuy là ngân hàng lớn nhất cho nông dân vay tiền, số tín dụng vi mô do ngân hàng
này cung cấp tương đối giới hạn vì hai lý do: thứ nhất, ngân hàng này tuy do trung
ương kiểm soát nhưng không được ủy nhiệm phục vụ dân nghèo và thứ hai, chính
ngân hàng không khuyến khích phát triển tín dụng vi mô – vì hoạt động chính của
ngân hàng không phải là cung cấp tín dụng thương mại cho giới nghèo.

3.3.1.3

Các quỹ tín dụng Nhân dân

Thành lập năm 1993, thời kỳ thịnh hành nhất có tới hàng nghìn quỹ ở cấp cơ sở
nhưng đến năm 1998 do cuộc khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng đến toàn bộ hệ
thống tài chính nên năm 2000 đã được tổ chức lại theo 2 cấp là Trung ương và cơ
sở. Từ năm 2005 các Quỹ TDND trung ương và cơ sở được thống nhất quản lý bởi
Hiệp hội quỹ TDND. Đến nay trong hệ thống này, ngoài Quỹ TDND Trung ương

Trang 56

còn có 1046 Quỹ TDND cơ sở. Hơn 15 năm qua, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
đã phát triển nhanh chóng. Gần đây, nhờ sự hỗ trợ của Quỹ Bill and Melinda Gates,
hệ thống Quỹ đã được vi tính hóa và thử nghiệm dịch vụ thanh toán điện tử và
chuyển tiền cho các thành viên của mình. Quy mô khoản vay trung bình khoảng
hơn 8 triệu VND, cho thấy đối tượng vay không thuộc diện quá nghèo
QTDND được đánh giá cao về khả năng tiếp cận khách hàng và độ tiện ích của dịch
vụ, nhưng bị giới hạn ở phạm vi hoạt động trong cấp xã. Do đặc điểm là tổ chức tín
dụng phi ngân hàng, hoạt động của QTDND chỉ bó hẹp trong phạm vi cung cấp các
dịch vụ tài chính cho các thành viên của quỹ. Từ ngày 25/08/2010 QTDND đã
chính thức đưa vào hoạt động dịch vụ chuyển tiền FT, (FT là chương trình chuyển
tiền nhanh của QTDND Trung ương với mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch
rộng khắp đất nước đã mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng)
Để thành lập một Quỹ Tín dụng Nhân dân cần có sự tham gia của ít nhất 15 thành
viên sáng lập. Để đảm bảo cho sự hoạt động của Quỹ Tín dụng Nhân dân, các thành
viên sáng lập cần đóng góp một khoản vốn ban đầu ít nhất là 50 triệu đồng (khoảng
3,000 USD) bằng việc mua cổ phiếu trị giá ít nhất là 3,3 triệu đồng (tương đương
220 USD)/cổ phiếu. Sau khi đăng ký thành lập, Quỹ Tín dụng Nhân dân sẽ kêu gọi
thêm các thành viên mới tham gia mua cổ phiếu với giá 50,000 đồng (4 USD)/cổ
phiếu. Những thành viên này sau đó sẽ có quyền huy động và cho vay. Khoảng 84%
tài sản của các Quỹ Tín dụng Nhân dân được huy động từ các thành viên của Quỹ
(từ vốn góp và các khoản tiếtkiệm) (BWTP, 2008)

3.3.1.4

Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện Việt Nam

Công ty dịch vụ TKBĐ (VPSC) được thành lập vào năm 1999 và hoạt động dưới
quyền của Tổng cục Bưu chính viễn thông Việt Nam. Là một mạng những hợp tác
xã tài chính hoạt động độc lập vừa nhận tiền tiết kiệm của dân vừa phát hành tín
dụng vi mô cho bộ phận dân cư Việt Nam chưa được phục vụ đầy đủ. Theo Quyết
định 215/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, VPSC được phép huy động tiền
nhàn rỗi trong dân cư thông qua các dịch vụ tiết kiệm bưu điện (TKBĐ) để chuyển

Trang 57

giao cho Quỹ Hỗ trợ phát triển – đây là Quỹ huy động vốn trung và dài hạn, tiếp
nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước dành cho tín dụng đầu tư phát triển,
hiện nay đã được chuyển đổi thành ngân hàng Phát triển Viển Nam (VDC); ngoài ra
VPSC không được phép cung cấp dịch vụ gì khác ngoài dịch vụ tiết kiệm.
Ngày 29/07/2011, VPSC đã sáp nhập với ngân hàng Liên Việt để hình thành ngân
hàng Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, việc sáp nhập này mở ra cơ hội cho VPSC
thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, mở rộng thêm mảng tín dụng, bảo
hiểm… Ngân hàng Bưu điện Liên Việt được kỳ vọng sẽ trở thành một thế lực
mạnh mẽ trong thị trường tài chính Việt Nam nói chung và trong hệ thống TCVM
nói riêng với hệ thống chi nhánh lớn nhất lên tới hơn 13000 chi nhánh và phòng
giao dịch trên cả nước. (www.lienvietpostbank.com.vn, 2011)

3.3.2 Khu vực bán chính thức
Các tổ chức bán chính thức không hoạt động theo các qui định về tài chính giống
như các chương trình của chính phủ, bao gồm các chương trình do các tổ chức phi
chính phủ (quốc tế và trong nước) tài trợ và các quỹ hoạt động chuyên lãnh vực tài
chính vi mô liên quan đến các tổ chức đoàn thể (như Hội liên hiệp Phụ Nữ Việt
Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam…). Những tổ chức
tài chính vi mô này được coi là khuyến khích người nghèo hơn và hướng tới việc
cung cấp dịch vụ tài chính sâu rộng hơn và thích hợp hơn so với khu vực tài chính
chính thức. Theo thống kê của MFWG, hiện nay, tai Việt Nam có 53 TCTCVM
không được chính phủ bao cấp đang hoạt động (MFWG, 2011). Hiện nay TYM là tổ
chức duy nhất được cấp giấy phép kinh doanh để trở thành tổ chức TCVM chuyên
nghiệp dưới tên gọi là “Tổ chức tài chính quy mô nhỏ TNHH MTV Tình Thương
(TYM)” . Ngoài ra quỹ Trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP) và
Mạng lưới tài chính vi mô M7 cũng đang tiến hành thủ tục xin đăng ký kinh doanh.

3.3.2.1

Tổ chức tài chính quy mô nhỏ TNHH MTV Tình Thương (TYM)

Từ năm 1992 đến năm 1997, TYM là một dự án trực thuộc Ban Gia đình đời sống
(nay là Ban Gia đình xã hội). Năm 1992, với khoản tài trợ ban đầu của Quỹ ủy thác

Trang 58

Châu Á (ACT) giúp TYM tiếp cận với phương pháp tín dụng theo kiểu ngân hàng
Grameen. Hoạt động chính của TYM là hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo tăng thu nhập,
phát triển sản xuất và dịch vụ đồng thời tuyên truyền nâng cao kiến thức về khuyến
nông, về giới, sức khỏe sinh sản, phòng chống tệ nạn xã hội.v...v.
Các thành viên đến với TYM được tập trung nhau lại thành những nhóm 5 người.
Từ 5-6 nhóm hình thành nên một cụm. Hàng tuần, cụm tổ chức họp để trao đổi
thông tin cũng như hoàn trả gốc, lãi vốn vay và đóng tiết kiệm.
Năm 1998, dự án Quỹ Tình Thương được tách ra khỏi Ban Gia Đình - Đời sống
thành một đơn vị độc lập trực thuộc Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội theo Quyết
định số 14/QĐ -ĐCT ngày 12/01/1998.
Sự chuyển đổi này đã minh chứng cho tính bền vững của chương trình và sự vượt
khó vươn lên không ngừng của những người nghèo không đầu hàng với số phận.
Từ đây, Quỹ Tình Thương đã hoạt động với bộ máy tổ chức riêng, con dấu, tài
khoản riêng và có các cán bộ chuyên trách trên Văn phòng trung ương. Với cơ cấu
độc lập, tự chủ, đã giúp cho hoạt động tài chính vi mô của TYM chuyên môn và
chặt chẽ hơn. (http://tymfund.org.vn, 2011)
Đến năm 2010 thì TYM chính thức trở thành Tổ chức Tài chính Quy mô nhỏ đầu
tiên tại Việt Nam được cấp phép của Ngân hàng Nhà nước. Đây là cơ hội nhưng
cũng có nhiều thách thức đối với TYM, cũng trong năm này TYM đã phát triển số
lượng thành viên mới nhiều nhất trong 18 năm hoạt động với 14.715 thành viên,
đưa tổng số thành viên TYM đạt trên 55.000 thành viên; tỷ lệ hoàn trả luôn được
duy trì ở mức 99.9%, dư nợ vốn đạt trên 281 tỷ đồng, tỷ lệ tự vững vận hành đạt
161%. Trong năm TYM đã hoàn thành việc chuyển đổi 100% các chi nhánh theo
mô hình cho vay cá nhân. (TYM, 2011)

3.3.2.2

Quỹ Trợ Vốn cho Người lao động nghèo Tự tạo việc làm (CEP)

Liên đoàn Lao động Tp. HCM thành lập CEP là một tổ chức tài chính vi mô phi lợi
nhuận vào tháng 11/1991 theo mô hình Ngân hàng Grameen nhằm giảm tình trạng

Trang 59

nghèo của công nhân lao động Thành phố và giúp họ tự tạo việc làm thông qua việc
cung cấp các dịch vụ tài chính. Năm 2010, CEP tiếp tục hoạt động trên địa bàn Tp.
HCM, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang.
Trong suốt 19 năm qua kể từ khi được thành lập, CEP không ngừng phát triển mạnh
mẽ nhờ vào tinh thần làm việc nỗ lực của đội ngũ cán bộ nhân viên, sự hỗ trợ tích
cực của hệ thống công đoàn và rất nhiều đối tác. Đến tháng 12/2010, với trên
164.400 thành viên đang vay vốn, CEP đạt vị trí là tổ chức tài chính vi mô lớn nhất
ở Việt Nam. CEP cung cấp các sản phẩm tài chính và một số dịch vụ phát triển
cộng đồng cho các hộ nghèo, chủ yếu là tín dụng tạo thu nhập và việc làm, nhằm
trực tiếp tạo ra những cải thiện an sinh của các hộ nghèo. CEP tập trung phục vụ
nhóm thành viên nghèo và nghèo nhất với nỗ lực tham gia đóng góp vào công cuộc
giảm nghèo trong cả nước
Đến cuối năm 2010, CEP có mạng lưới gồm 25 chi nhánh, 339 nhân viên, nguồn
vốn đầu tư cho vay 723 tỷ đồng và tiếp tục tự cung về hoạt động.
Sản phẩm tín dụng vi mô của CEP bao gồm hai sản phẩm vay được phân loại theo
chu kỳ hoàn trả nợ vay: hoàn trả vốn vay theo hàng tuần và hàng tháng. Thời hạn
vay từ 20 đến 60 tuần đối với góp tuần, và 10 đến 15 tháng đối với vay góp tháng.
Mỗi khách hàng chỉ có thể được sử dụng một trong 2 loại sản phẩm vay chính, tuy
nhiên mục đích sử dụng vốn vay có thể thay đổi tùy theo tính chất của hoạt động tạo
thu nhập. Sản phẩm vay góp tháng phục vụ cho đối tượng công nhân viên và công
nhân làm việc ở nhà máy, khu công nghiệp, vay góp tuần dành cho đồi tượng lao
động nghèo, đặc biệt là phụ nữ, những người cần vốn để tự tạo việc làm. Năm 2010,
CEP đã cấp 208.000 khoản vay cho khách hàng. (http://www.cep.org.vn, 2011)
Về dịch vụ tiết kiệm, CEP cũng có 2 hình thức: tiết kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự
nguyện. Khách hàng sẽ thực hiện tiết kiệm bắt buộc trích từ một phần của vốn vay
trong suốt chu kỳ hoàn trả, và được khuyến khích thực hiện tiết kiệm tự nguyện.
CEP sẽ hoàn trả lãi suất hàng tháng là 0,25% dựa trên dư nợ tiết kiệm. Khách hàng
vay góp tháng được yêu cầu thực hiện tiết kiệm 1%/tháng trên vốn vay, đối với