Tải bản đầy đủ
Khái quát chung quan hệ EU – Việt Nam

Khái quát chung quan hệ EU – Việt Nam

Tải bản đầy đủ

EU trở thành một trong các đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh
vực, đặc biệt là kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển
kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
1990: Việt Nam và Cộng đồng châu Âu chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.
1992: Việt Nam và Cộng đồng châu Âu ký Hiệp định dệt may.
1995: Việt Nam và Cộng đồng châu Âu ký Hiệp định Khung Hợp tác Việt Nam EC.
1996: Ủy ban châu Âu thành lập Phái đoàn Đại diện thường trực tại Việt Nam.
1997: Việt Nam tham gia Hiệp định hợp tác ASEAN – EU.
2003: Việt Nam và EU chính thức tiến hành đối thoại nhân quyền.
2004: Hội nghị Cấp cao Việt Nam - EU lần thứ I tại Hà Nội.
2005: Việt Nam thông qua Đề án tổng thể và Chương trình hành động đến 2010 và
định hướng tới 2015 về quan hệ Việt Nam - EU
2007: Tuyên bố chính thức khởi động đàm phán Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn
diện Việt Nam - EU (PCA).
2008: Đàm phán Hiệp định PCA Việt Nam - EU
2010: Ký tắt Hiệp định PCA Việt Nam - EU.
Hiệp định Đối tác và hợp tác toàn diện Việt Nam – EU (PCA): Quan hệ Việt Nam
- EU đã phát triển nhanh chóng cả về bề rộng lẫn chiều sâu đặt ra yêu cầu xây dựng
một khuôn khổ hợp tác mới, phản ánh được mối quan hệ đối tác đang phát triển mạnh
mẽ và xây dựng khuôn khổ pháp lý mới thay thế cho Hiệp định khung Việt Nam - EC
năm 1995. Trên tinh thần đó, tháng 6/2008, Việt Nam và EU đã khởi động đàm phán
Hiệp định PCA. Sau 9 vòng đàm phán (từ 6/2008 đến 10/2010), ngày 4/10/2010, Hiệp
định PCA đã được ký tắt bên lề Hội nghị ASEM-8 tại Bỉ trước sự chứng kiến của Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch EC Barroso. PCA giữa Việt Nam và EU đánh
dấu một mốc mới trong quan hệ hợp tác hai bên, thể hiện những bước phát triển to lớn,
sâu rộng của quan hệ Việt Nam - EU trong 20 năm qua, đồng thời tạo cơ sở pháp lý
đưa quan hệ hợp tác Việt Nam –EU bước sang một giai đoạn mới với phạm vi rộng lớn
và mức độ hợp tác sâu sắc hơn. Hiện nay hai bên đang chuẩn bị để ký chính thức Hiệp
định.

40

Chính trị

Tiếp xúc và trao đổi đoàn cấp cao: Lãnh đạo cấp cao hai bên luôn khẳng định coi
trọng quan hệ song phương, mong muốn tăng cường hợp tác nhiều mặt tương xứng với
tiềm năng và vị thế của hai bên, thường xuyên có các cuộc tiếp xúc và thăm viếng lẫn
nhau, trong đó có nhiều chuyến thăm Cấp cao.
Cơ chế đối thoại, hợp tác: Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam – EC (UBHH) (theo Hiệp
định khung 1995): Cơ cấu tổ chức UBHH bao gồm:
- Tổ công tác Việt Nam – EU về Thương mại và đầu tư.
- Tổ công tác Việt Nam – EU về Hợp tác phát triển.
- Tiểu ban Việt Nam – EC về xây dựng Thể chế, Cải cách Hành chính, Quản trị và
Nhân quyền.
- Tiểu ban Việt Nam – EC về Khoa học và Công nghệ.
Kinh tế

Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 10 năm 1990, Việt Nam đã trở thành
một trong những đối tác chính của Liên minh châu Âu tại khu vực Đông Nam Á. EU
và Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác song phương trải rộng khắp các lĩnh vực
Trong những thập kỷ vừa qua, Liên minh châu Âu là một đối tác đáng tin cậy và
đang hỗ trợ quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu. Hỗ trợ từ EU
đóng góp cho việc thực hiện thành công các chính sách cải cách theo định hướng thị
trường được gọi là Đổi Mới vào năm 1986, và đã dẫn đến tiến bộ kinh tế đáng chú ý
của Việt Nam. Với mức thu nhập bình quân đầu người của là 2.215 USD, Việt Nam
đang được xếp là một quốc gia có thu nhập trung bình thấp.

41

Năm 2016, EU là một trong những thị trường ngoài nước quan trọng nhất của Việt
Nam (EU xếp thứ hai sau Mỹ). EU nhập khẩu 19,5% tổng lượng xuất khẩu của Việt
Nam năm 2016. Thương mại hai chiều tăng 9.5% chủ yếu là do tỷ lệ tăng trưởng ấn
tượng của hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU, điều này đã làm cho tỷ lệ tăng năm
sau so với năm trước là 10% (34 tỷ USD). EU cũng là đối tác thương mại lớn thứ ba
của Việt Nam sau Trung Quốc và Hoa Kỳ. Đặc biệt, khoản thặng dư thương mại liên
tục gần 22,9 tỷ USD mà Việt Nam có được trong giao thương với EU giúp cân bằng
đáng kể thâm hụt thương mại khổng lồ của Việt Nam với Trung Quốc và Hàn Quốc và
dẫn tới kết quả thặng dư thương mại khoảng 2,68 tỷ USD. Do vậy, 2016 đánh dấu một
năm nữa mà trong đó Việt Nam có được thặng dư thương mại kỷ lục với EU.

Hình 2.5 Top 10 nước dẫn đầu về kim ngạch thương mại Việt Nam – EU 6
tháng đầu năm 2016
(Nguồn: Tổng cục Hải quan 2016)
Việc mở rộng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU được hưởng lợi đáng kể
từ Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cập của EU (Generalised Scheme of Preferences
(GSP) tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng hóa từ các nước đang phát triển vào EU.
Thông tin toàn diện về mức thuế nhập khẩu EU và điều kiện tiếp cận thị trường khác
có thể được tìm thấy tại Cơ sở Dữ liệu Hỗ trợ Xuất khẩu (Export Helpdesk) của EU.
Đầu tư
Liên minh châu Âu là một trong những nguồn đầu tư nước ngoài quan trọng nhất
của Việt Nam. Theo Cục Đầu tư Nước ngoài của Bộ Kết hoạch và Đầu tư, các nhà đầu
42

tư từ 23 trong tổng số 28 Nước Thành viên EU đã đầu tư một lượng vốn FDI theo cam
kết là 21,77 tỷ USD vào 1903 dự án trong vòng 26 năm qua (tính đến cuối năm 2016).
Trong năm 2016, các nhà đầu tư từ EU đã rót 478,4 triệu USD vào 162 dự án tại Việt
Nam.
Quản lý mối quan hệ
Ủy ban châu Âu đại diện cho EU nói chung về các vấn đề chính sách thương mại có
sự tham vấn chặt chẽ với các nước thành viên EU. Các cuộc họp thường xuyên các
tham tán kinh tế và thương mại của tất cả các đại sứ quán thành viên EU và Phái đoàn
EU tại Việt Nam đảm bảo sự trao đổi về các vấn đề quan trọng. Ngoài ra, Phái đoàn
EU cũng thường xuyên tham khảo quan điểm của các doanh nghiệp châu Âu, mà đại
diện là Phòng Thương Mại Châu Âu.
Hơn nữa, như là một phần của quan hệ đối tác tiếp cận thị trường châu Âu, Đội Tiếp
cận Thị trường châu Âu cho Việt Nam được thành lập vào năm 2008. Điều này đóng
vai trò là diễn đàn cho các cuộc thảo luận giữa các cộng đồng doanh nghiệp, các tham
tán thương mại các Nước Thành viên và Phái đoàn EU tại Việt Nam nhằm giải quyết
các rào cản trong tiếp cận thị trường một cách có hệ thống và hiệu quả hơn.
Chương trình Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của châu Âu (EUMUTRAP) là một dự án trọng điểm trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng trưởng
toàn diện và giảm nghèo ở Việt Nam. Với tổng vốn hỗ trợ đạt trên 35,37 triệu € kể từ
năm 1998 đến nay, dự án hiện đang cung cấp khoản vốn trị giá 16,5 triệu € cho giai
đoạn thứ tư của chương trình, từ 27 tháng 8 năm 2012 đến 30 tháng 6 năm 2017.
Dự án EU-MUTRAP đã rất hữu hiệu trong việc hỗ trợ các nỗ lực đàm phán của Việt
Nam trong quá trình gia nhập WTO và trong Hiệp định FTA EU-Việt Nam.
Dự án này cũng tiếp tục giúp đỡ Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các hệ thống
thương mại toàn cầu, ASEAN và tiểu vùng. Mục tiêu cụ thể của chương trình này là
nhằm hỗ trợ Bộ Công Thương Việt Nam và các bộ, cơ quan liên quan trong việc tạo
thuận lợi cho thương mại và đầu tư quốc tế bền vững thông qua việc cải thiện năng lực
hoạch định chính sách, tham vấn chính sách và việc thực thi các cam kết liên quan,
nhất là đối với FTA EU-Việt Nam.
Hiệp định tự do Thương mại (FTA)
Thương mại đóng một vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
của Việt Nam và tầm quan trọng này đã được phản ánh thông qua một loạt các hiệp
định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam đang đàm phán.

43

EU và Việt Nam đã chính thức triển khai đàm phán Hiệp định Thương mại tự do
(FTA) vào tháng 6 năm 2012. Sau 14 vòng đàm phán, quá trình đàm phán FTA này đã
chính thức hoàn thành vào tháng 12 năm 2015 tại Brussels.

FTA EU-Việt Nam là một hiệp định hiện đại và toàn diện. Hiệp định sẽ xóa bỏ gần
như toàn bộ thuế quan trong thương mại hàng hóa giữa hai nền kinh tế. Điều này đã
cho thấy một niềm tin chung giữa EU và Việt Nam đó là thương mại có vai trò thiết
yếu đối với sự tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và phát triển bền vững.
Bên cạnh việc xóa bỏ thuế quan, Việt Nam cũng sẽ gỡ bỏ hầu hết các loại thuế xuất
khẩu. Hiệp định này sẽ tạo ra những cơ hội tiếp cận thị trường mới trong lĩnh vực dịch
vụ và đầu tư. Việt Nam đã đồng ý với việc tự do hóa thương mại trong lĩnh vực dịch
vụ tài chính, viễn thông, giao thông, bưu chính và chuyển phát nhanh.
FTA này bao gồm một chương toàn diện và có nội dung cam kết mạnh mẽ về
Thương mại và Phát triển Bền vững, bao trùm các vấn đề về lao động và môi trường
có liên quan trong quan hệ thương mại giữa EU và Việt Nam. Những cam kết đối với
những tiêu chuẩn lao động cốt lõi và các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) đảm bảo cả hai bên tôn trọng những quyền cơ bản của người lao động. Ngoài ra,
chương này cũng bao gồm những cam kết hỗ trợ việc bảo tồn và quản lý bền vững tài
nguyên thiên nhiên (bao gồm động vật hoang dã, rừng và thủy hải sản). Những lĩnh
vực như Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp và những cơ chế hợp tác thương mại
có đạo đức và công bằng cũng được đặc biệt chú trọng.
Hiệp định cũng sẽ bao hàm một mối liên kết có ràng buộc về mặt pháp lý với Hiệp
định Đối tác và Hợp tác Toàn diện (PCA) trong đó chi phối mối quan hệ toàn diện giữa
EU và Việt Nam, qua đó đảm bảo rằng nhân quyền, dân chủ, và pháp quyền là những
thành phần thiết yếu trong mối quan hệ thương mại song phương của hai bên. 20

20 Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam (16/05/2016). Việt Nam và EU. Được khai thác từ
https://eeas.europa.eu/delegations/vietnam/13395/viet-nam-va-eu_vi

44

Giới thiệu hàng may mặc
Khái niệm hàng may mặc

Hàng may mặc (Tiếng anh: Clothing Products): Là những sản phẩm thuộc hàng dệt
may được sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu làm đẹp hoặc nhu cầu chính yếu của con
người.
Như vậy, hoạt động xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU là qúa trình trao
đổi hàng may mặc và dịch vụ gia công hàng may mặc giữa Việt Nam - EU và lấy
ngoại tệ làm phương tiện thanh toán.
Sản phẩm chính yếu hàng may mặc của Việt Nam xuất sang thị trường EU chủ yếu
là: Quần dài, áo sơ mi, quần short, áo jacket, áo bông, áo thun…
Phân loại hàng may mặc

Trong biểu thuế xuất khẩu năm 2010 của Tổng cục Hải quan đã đưa ra danh mục
quần áo và hàng may mặc phụ trợ trong chương 61 và 62. Theo danh mục này, hàng
may mặc bao gồm nhiều loại khác nhau như sau:
• Áo khoác ngoài, áo choàng mặc đi xe (car-coats), áo khoác không tay, áo
choàng không tay, áo khoác có mũ trùm (kể cả áo jacket trượt tuyết), áo gió,
áo jacket chống gió và các loại tương tự, dùng cho nam giới hoặc trẻ em trai.
• Áo khoác ngoài, áo choàng mặc đi xe (car-coats), áo khoác không tay, áo
choàng không tay, áo khoác có mũ trùm (kể cả áo jacket trượt tuyết), áo gió,
áo jacket chống gió và các loại tương tự, dùng cho phụ nữ hoặc trẻ em gái.
• Bộ com-lê, bộ quần áo đồng bộ, áo jacket, áo khoác thể thao, quần dài, quần
yếm có dây đeo, quần ống chẽn và quần sooc dùng cho nam giới hoặc trẻ em
trai.
• Bộ com-lê, bộ quần áo đồng bộ, áo jacket, áo khoác thể thao, quần dài, quần
yếm có dây đeo, quần ống chẽn và quần sooc dùng cho phụ nữ hoặc trẻ em
gái.
• Áo sơ mi nam giới hoặc trẻ em trai
• Áo choàng ngắn, áo sơ mi và áo choàng sơ mi phỏng kiểu nam cho phụ nữ
hoặc trẻ em gái.
• Áo may ô và các loại áo lót khác, váy lót, váy lót trong, quần đùi bó, váy
ngủ, bộ pyjama, áo choàng tắm, áo khoác ngoài mặc trong nhà và các loại
tương tự, dùng cho phụ nữ hoặc trẻ em gái.
• Quần áo may sẵn và đồ phụ kiện hàng may mặc cho trẻ em.
45

• Bộ quần áo thể thao, bộ quần áo trượt tuyết và quần áo bơi, quần áo khác.
Thị trường EU với hàng may mặc
Đặc điểm của thị trường EU về hàng may mặc

EU là thị trường sản phẩm hàng may mặc lớn, chính vì vậy EU luôn có các đặc
điểm riêng biệt như sau:
Một là EU là một thị trường rộng lớn với nhu cầu đa dạng, phong phú: Với 28
quốc gia với khoảng 500 triệu người tiêu dùng nên nhu cầu về hàng hoá rất đa dạng,
phong phú. Đặc biệt là, với mặt hàng dệt may là mặt hàng có tính mùa vụ và thời trang
cao thì nhu cầu càng đa dạng. Tuy vậy thị trường EU không hoàn toàn đồng nhất, 28
quốc gia trong EU với ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo khác nhau, khác nhau
về khu vực địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi tác,sở thích ... sẽ có nhu cầu rất khác nhau về
trang phục. Thị trường EU chỉ thống nhất về mặt kỹ thuật, còn trong thực tế là nhóm
thị trường quốc gia và khu vực, mỗi nước có một bản sắc và đặc trưng riêng. Mỗi nước
thành viên tạo ra các cơ hội khác nhau và yêu cầu của họ cũng khác nhau. Trải dài trên
một khu vực địa lý rộng lớn, khí hậu thay đổi từ nước này sang nước khác nên trang
phục của người dân EU cũng khác nhau. Trong mỗi nước lại có những dân tộc với
những truyền thống văn hoá khác nhau đây cũng là một yếu tố tạo nên tính đa dạng về
nhu cầu với sản phẩm may mặc. Lứa tuổi, giới tính, công việc của mỗi cá nhân cũng
yêu cầu sản phẩm may mặc phù hợp với những người làm việc trong công sở họ có
nhu cầu lớn với mặt hàng sơ mi, comple. Trong khi đó với những người nông dân lại
yêu cầu những mặt hàng quần áo gọn nhẹ phù hợp với công việc đồng áng. Trong
những buổi dạ tiệc họ lại cần những bộ quần áo làm cho họ nổi bật. Với những doanh
nhân trang phục của họ phải thể hiện tình năng động trong công việc. Yêu cầu của họ
đa dạng không chỉ về mẫu mã, chất liệu màu sắc, kiểu dáng, kích cỡ mà còn về tính
thời trang. Nghiên cứu thị trường để nắm vững nhu cầu của từng nhóm người tiêu
dùng trong khu vực thị trường EU có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiêu thụ
sản phẩm21.
Hai là về tập quán tiêu dùng của người dân EU: Đây cũng là một đặc điểm cần
lưu ý vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề tìm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm. Đối
với mặt hàng may mặc, khách hàng EU rất quan tâm đến chất lượng và thời trang, do
đó yếu tố này có khi lại quan trọng hơn yếu tố về giá cả. EU là nơi hội tụ của những
21 Nguyễn Thanh Bình, Đặc điểm thị trường EU đối với hàng may mặc - Thị Trường EU và các chính sách
pháp lý, Nxb Lao Động – Xã Hội.

46